Hiển thị các bài đăng có nhãn Hạnh Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hạnh Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2011

Thánh RAYMUNDO PENYAFORT - Ngày 07 - 01


Ngày 07-01

THÁNH RAYMUNDO PENYAFORTLinh Mục (1175-1275)

Thánh Raymudô chào đời năm 1175 trong một gia đình hiệp sĩ tại lâu đài Penyafort ở California. Không chiều theo cuộc sống dễ dãi, Ngài đã dành trọn nỗ lực tuổi trẻ vào việc học hành và thực tập các nhân đức. Mới 20 tuổi, Ngài đã giữ ghế triết tại đại học Barcelona. Nhưng vì tinh thần hiếu học và muốn giúp ích cho Giáo hội đắc lực hơn, năm 30 tuổi, Ngài qua Italia để tiếp tục học luật tại Bologna. Tại đây Ngài đã tốt nghiệp tiến sĩ và thành công trong nghề luật sư, lại còn giảng dạy tại chính đại học Bologna trong ba năm. Nhiều nhà quí phái và bậc thứ giả tìm đến với Ngài. Tận tụy hướng dẫn họ, Ngài chỉ mong cho họ tiến bộ. Nếu có bị ép để nhận một ít thù lao nào, Ngài cũng đem phân phát cho người nghèo.

Năm 1249, Đức giám mục địa phận Bacelona mời Ngài về giúp việc địa phận. Nhưng lúc 48 tuổi, thánh nhân đã trốn mọi danh vọng và xin gia nhập dòng Daminh, Ngài chỉ ao ước được trao phó cho những công việc thấp hèn nhất. Nếu được tán thưởng, Ngài liền xin bề trên cho được làm việc đền tội. Tuy nhiên việc đền tội Ngài không mong mỏi chút nào, là việc nhà dòng trao cho Ngài trách nhiệm viết một tác phẩm về các vấn đề lương tâm để hướng dẫn các cha giải tội. Tác phẩm này cho tới ngày nay vẫn còn danh tiếng.

Năm 1230, Đức giáo hoàng Gregoriô IX cảm kích những thành quả do thánh Raymundô mang lại, đã mời làm cha giải tội cho mình, đồng thời chọn Ngài làm tổng giám mục thành Tarragona. Nhưng danh dự này đã khiến thánh nhân, khi nghe tin, lên cơn sốt liền trong vòng ba ngày, Ngài đã xin các đức hồng y can thiệp cho mình khỏi lãnh nhận danh dự và gánh nặng này. Cuối cùng Đức giáo hoàng đành chấp thuận. Năm năm làm việc tại giáo triều, đức giáo hoàng đã ủy thác cho thánh nhân thu thập các sắc lệnh của các đức giáo hoàng và các công đồng thánh nhân đã gom góp vào năm cuốn sách và được phê chuẩn năm 1234. Ngoài việc chu toàn các nghĩa vụ được trao phó, Ngài còn theo đuổi một nếp sống nhiệm nhặt, khiến Ngài lâm trọng bệnh. Thánh nhân liền khẩn nài cho mình được trở về với nếp sống tu sĩ bình thường.

Từ khứơc mọi đặc ân thánh nhân rời khỏi Roma trở về Barcelona. Trên chuyến tàu Ngài gặp một người lâm bệnh nặng không còn nói năng gì được. Cầu nguyện và xin mọi người cầu nguyện cho ông, thánh nhân hỏi ông có muốn xưng tội không ? Bệnh nhân bỗng nói được. Ông ta đã xưng tội rồi tắt thở.

Tại Barcelon, thánh nhân trở lại đời sống sám hối rất gương mẫu. Hàng ngày Ngài vẫn xưng tội rước khi dâng lễ. Ngài nói : - "Những ngày bị ngăn trở không xưng tội được, đối với tôi là những tang chế u sầu".

Năm 1238, Ngài được bầu làm bề trên tổng quyền thứ ba của dòng Daminh. Suốt hai năm làm bề trên, Ngài đã đi bộ đến thăm viếng mỗi tỉnh dòng để hun nóng lòng nhiêt thành của các tu sĩ. Hai năm sau Ngài xin từ chức vì tuổi già sức yếu.

Tuy nhiên trong tuổi già yếu, Ngài vẫn góp phần xây dựng cho tổ quốc. Ngài đã viết thư yêu cầu thánh Tôma viết một bộ sách để chống lại bọn lạc giáo, như vua Giacôbê yêu cầu. Thánh Tôma đã nhận lời và viết bộ sách "Summa Contra Ghentiles" Dù được nhà vua quí mến chiều chuộng, nhưng thánh nhân không ngại cảnh cáo ông ta. Một lần kia, trong cuộc chinh phục đảo Maiorqua. Vua mời thánh nhân cùng đi. Thánh nhân nhận lời với ước vọng giảng thuyết để phá đổ những sai lầm tại đó. Nhưng tới nơi, Ngài khám phá ra rằng nhà vua đang phá hoại tổ chức bằng cuộc sống tội lỗi của mình. Ngài can ngăn nhưng nhà vua không giữ lời hứa.

Thánh nhân liền tuyên cáo: - Vì Ngài không bỏ đường tội lỗi nên tôi sẽ bỏ đi.

Hoảng hốt, nhà vua cấm mọi tàu thuyền không được phép chở Ngài. Tương truyên rằng: thánh nhân đã nói với một tu sĩ đi theo Ngài rằng:  - Một vua trần thế cản đường, thì vua trên trời sẽ mở lối cho chúng ta đi.

Nói rồi, Ngài cởi áo ngoài trải ra trên mặt biển, cắm cây gậy làm cột và cuốn một góc làm buồm. Ngài mời thầy dòng lên "Tàu" nhưng ông không dám. Thế là một mình Ngài đáp "tàu" hồi hương. Vài giờ sau thánh nhân tới bến và Ngài vội vàng cuốn áo thẳng về nhà dòng để tránh tiếng hoan hô của dân chúng. Phép lạ này đã trở thành sức mạnh cải hóa nhà vua, đưa ông trở lại với lương tâm và quê hương mình.

Về già, thánh Raymundô đã chịu nhiều cơn đau yếu, nhưng lòng nhiệt thành của Ngài vẫn bốc cháy không ngừng. Ngày 6 tháng giêng năm 1275 Ngài đã từ giã cõi thế là nơi mà Ngài đã hiến trọn đời phụng vụ Chúa.
Theo dunglac.org

Thánh Grêgôriô Nazianzênô - Ngày 02 - 01


Ngày 02-01

Thánh GREGÔRIÔ NAZIANZÊNÔGiám Mục Tiến Sĩ - (329 - 390)

Thánh Grêgôriô Nazianzênô là một trong những giáo phụ danh tiếng của giáo hội Hy Lạp và được mệnh danh là thần học vì giáo thuyết rất sâu sắc của Ngài. Ngài ra đời khoảng năm 329, trong một gia đình danh giá và đáng mến chuộng. Cha Ngài, cũng tên là Grêgôriô, lúc ấy còn là lương dân. Nhưng thánh nữ Monna, mẹ Ngài, nhờ nhân đức siêu vượt, sự dịu hiền, đời sống gương mẫu với kinh nghiệm và nước mắt đã đưa ông về với Chúa Giêsu.

Thánh Leông (Léonce) giám mục thành Cêsarêa đã rửa tội cho ông. Vài năm sau, nhờ đời sống đạo đức trổi vượt, ông đã xứng đáng lãnh chức giám mục, cai quản điạ phận Nazianze.

Thánh Grêgôriô ra đời như kết quả lời cầu nguyện của bà mẹ thánh thiện, chỉ mong có được người con để phục vụ bàn thánh. Khi thánh nhân ra đời, bà coi Ngài như quà tặng của trời cao. Được đào tạo trong một môi trường thánh thiện như vậy, ngay từ nhỏ, Ngài đã biết quí trọng những nét đẹp của tội thơ vô tội.

Thánh nhân được cử đi học hùng biện ở Cêsarêa, rồi Palestina. Sau đó Ngài đã qua Alexandria và sau cùng tới Athena là nơi coi là nguồn gốc đích thật của khoa hùng biện, trên đường tới Athena, con tàu thánh nhân đi đã phải một cơn bão dữ dội, tưởng chừng như sẽ bị đắm chìm trong lòng biển. Lúc ấy thánh nhân chưa được rửa tội và rất lo âu cho phần rỗi của mình. Ngài tha thiết cầu khẩn Thiên Chúa thánh cho được sống thêm, để có thể làm con Chúa. Thánh nhân đã được nhậm lời. Cơn giông bão chấm dứt và Ngài tới được Athena.

Tại đây thánh Gregorio gặp lại một người bạn cũ của mình là thánh Basiliô. Mối giây thân tình giữa các Ngài ngày càng trở nên bền chặt hơn. Cho đến ngày nay, người ta vẫn còn trưng dẫn hai vị nhân này như là khuôn mẫu cho tình bạn trong trắng và chân thành nhất. Không thể lìa xa nhau, họ còn chú tâm tránh thoát mọi cuộc kết thân nguy hiểm và chỉ giao tiếp với những bạn bè mà lòng hiếu học luôn đi đôi với việc thực hành các nhân đức. Không bao giờ người ta thấy họ đi vào các cuộc giải trí có tính cách trần tục. Trong thành phố xa hoa ấy họ chỉ biết có hai con đường dẫn tới nhà thờ và các trường học.

Hoàn tất việc học hành, thánh Grêgôriô trở về sống với cha mình đang làm giám mục cai quản giáo phận Nazianze và được cha ban phép Rửa tội cho. Một khi đã được đóng ấn tín thần linh, Ngài coi mình hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và hiến thân phung sự Ngài,

Ngài nói: - "Tôi hiến trọn cho Đấng đã ban cho tôi tất cả. Từ nay chỉ có Ngài là phần sản nghiệp của tôi".

Tình thảo hiếu đã giữ lại bên người cha già tám mươi tuổi trong ba năm trời. Ngài giúp đỡ cha trong mọi công việc và chăm sóc mọi việc trong nhà. Nhưng lòng yêu thích được ẩn dật đã đưa Ngài tới gặp thánh Basiliô đang theo đuổi nếp sống tu trì. Ngài đã sống xa thế gian một thời gian và chỉ lo tới sự hoàn thiện của mình. Nhưng thời gian ẩn dật này mới chỉ đủ cho Ngài nếm thử được sự ngọt ngào để mà luyến tiếc thôi, người cha già chín mươi tuổi đã gọi Ngài về giúp việc điều khiển giao phận. Nhận thấy rằng: Giáo hội sẽ được lợi ích nhiều bởi người con thân yêu của mình, vị thánh giám mục già cả đã truyền chức linh mục cho Ngài ngày 6 tháng 1 năm 362. Lúc ấy thánh Gregôriô hơn ba muôi lăm tuổi và ấn tích mới càng tăng thêm nhiệt tình của Ngài.

Thánh Basiliô lúc ấy đã làm tổng giám mục Cêsalêa, quyết định nâng thánh Gregoriô lên làm giám mục cai quản điạ phận Sarima. Nhưng vì những chống đối dữ dội, Ngài đã không hề tới nhậm điạ phận được và dường như Ngài chịu chức giám mục chỉ để giúp đỡ người cha mà tuổi tác đã không cho phép chu toàn phận sự được nữa. Sau khi cha qua đời năm 374 thánh nhân trở lại Nazianze săn sóc cho giáo phận, nhưng không hề muốn làm giám mục của giáo phận này.

Năm 380, tức là khoảng năm năm sau, các tín hữu ở Constantinopkle đã khẩn nài thánh nhân tới củng cố giáo phận đã bị bè rối Ariô tàn phá của họ, với nhiệt tâm tông đồ, thánh nhân đã nhận lời. Trước tiên thánh nhân đã không được tiếp đón nồng hậu lắm. Trong một thành phố xa hoa giàu có vì là thủ đô mới của đế quốc này, người ta đang ngóng đợi một nhân vật có khuôn mặt sáng sủa giữa một đám rước linh đình. Nhưng người ta đã vô cùng kinh ngạc khi thấy Ngài chỉ là một ông lão già yếu, ăn mặc giản dị và lời nói vắn gọn.

Những người theo lạc giáo Ariô chế giễu phỉ báng Ngài. Dầu vậy, bằng những giáo huấn vững chắc và hùng hồn, Ngài đã thành công trong việc đưa dân thành này từ chỗ bỏ cái sai lầm của lạc giáo mà trở về với đức tin công giáo. Sau bốn mươi bị năm bị tàn phá. Giáo phận không có nhà thờ, Ngài rao giảng trên đường phố hay tại một ngôi nhà mà Ngài đăt tên là Anastasia.

Hương thơm nhân đức và sự hiểu biết uyên thâm của Ngài đã lối kéo cảm tình người nghe càng thêm đông. Từ trong sa mạc, thánh Hiêronymô cũng tìm đến nghe người giảng thuyết. Tuy nhiên bề ngoài khiêm tốn bình dị và hoàn cảnh khó khăn ấy cũng là một khó khăn khiến cho địch thủ đã nhiều lần toan tính ám hại Người.

Năm 381, công đồng chung họp tại Constantinople, thánh Grêgôriô được bầu lên làm giám mục chính tòa của giáo phận này và giữ ghế chủ tịch công đồng. Nhưng ít lâu sau, một số giám mục đã chất vấn tính cách hợp pháp của chức vụ Ngài. Lợi dụng những chống đối này, thánh Grêgôriô đã xin từ chức. Sau khi đã làm vui lòng các nghị phụ công đồng bằng quyết định của mình, thánh nhân đã đe5 đơn lên Hoàng đế Têodô (Thésdose) Hoàng đế buộc lòng chấp thuận, cho Ngài từ nhiệm, chỉ vì lý do sứ ckhỏe mà thôi. Trước khi dứt mình khỏi Giáo hội mà Ngài đã dày công tạo lập với đầy tình yêu quí, Ngài đã nói với mọi tín hữu và với các nghị phụ một diễn từ đặc sắc. Người ta gọi diễn từ ấy là: những lời giã biệt (Les Adieux).

Lui về Nazianze, thánh Grêgôriô dành thời gian viết sách. Năm 390 Ngài qua đời và để lại cho Giáo hội một kho tàng quí báu gồm 45 bài suy luận thần học và điếu văn, 245 bức thư và mấy tập thi ca. Người ta đọc cuộc đời trong những tác phẩm có giá trị văn chương và tín lý, chính ân đức ấy và sức mạnh tinh thần của Ngài.

Người ta còn giữ được bản di chúc và bản văn trên bia mộ chính Ngài sáng tác. Bản mộ thi này là một tóm lược khúc chiết trọn đời Ngài với những dòng kết thúc như sau: - "Tôi là mục tử không có đoàn chiên, và tôi đã đau khổ không ít bởi chính các mục tử. Tôi để Chúa Giêsu Kitô lo lắng cho tương lai đời tôi như chính Người đã lo cho tôi trong quá khứ".
Theo dunglac.org

Thánh Basiliô Cả - Ngày 02 - 01


Ngày 02-01

THÁNH BASILIÔ CẢGiám mục, Tiến Sĩ (329-397)

Thánh Basiliô, con người kỳ diệu mà mọi thời gọi là thánh Cả, chào đời vào khoảng cuối năm 329 tại Cêsarêa, thủ đô miền Cappadocia. Ngài thật có phúc vì được sinh ra trong một gia đình thánh thiện. Cha Ngài là thánh Basilio, mẹ Ngài là thánh nữ Emelia. Nhưng sinh ra Ngài, cha mẹ Ngài đã chịu bao nỗi lo âu. Một cơn bệnh nặng tưởng như đã cất mất mạng sống của Ngài. Việc Ngài bình phục được coi như là kết quả của lời cầu nguyện mà thôi.

Từ thuở thơ ấu thánh nhân đã đến sống với người bà là thánh nữ Macrina. Tại đây, Ngài đã hấp thụ được những nguyên tắc sống đạo đức đầu tiên. Ngài nói: tôi không hề quên được những lời dạy dỗ và gương lành mà người bà thánh thiện đã ghi vào trong tâm hồn bé thơ của tôi.

Ngay khi tới buổi đi học, cha Ngài, một con người vừa đạo đức vừa hoạt bát, đã tự đảm nhiệm việc dạy dỗ Ngài những yếu tố đầu tiên về văn chương. Sau khi cha qua đời, Ngài được gửi đi Cêsarea rồi Constantinople để học khoa hùng biện. Sau cùng, Ngài đi Athena, kinh thành ánh sáng của thế giới nói tiếng Hy Lạp thời đó. Tại đây, Ngài có dịp làm quen với Thánh Gregoriô thành Nazianze. Hai người kết thân với nhau và tình bạn đầy thánh thiện của họ không hề bị một áng mây mù nào che phủ. Trong thành phố xa hoa ấy, họ chỉ biết có hai con đường dẫn tới nhà thờ và tới trường học.

Sau khi hoàn tất các môn học, Ngài dồn nỗ lực học kinh thánh và các giáo phụ. Ngài đã kín múc được từ kho tàng phong phú này những hiểu biết và những tâm tình cao thượng qui hướng con người lên trời.

Lúc hai mươi bảy tuổi, Ngài trở về quê nhà và biện hộ cho một vài vụ kiện tụng. Tài lợi khẩu và thành công tưởng đã cột chặt Ngài vào với pháp đình. Nhưng chị Ngài là thánh nữ Macrina (trẻ) đã nói cho Ngài biết về sự giả trá của những tài năng của cả loài người, và về những giá trị chân thực mà Ngài nhhư đã bỏ quên. Thế là thánh nhân quyết từ giã thế gian và đeo đuổi đời sống tu trì. Ngài đã viếng thăm các tu viện bên Đông phương để tìm kiếm gương mẫu và thầy dạy đường nhân đức. Một năm sau Ngài trở về Cappadocia, rồi lui về miền Pont và thiết lập nhiều tu viện. Các qui luật Ngài soạn ra cho các tu viện đã trở thành danh tiếng và ngày nay vẫn còn được áp dụng tại các tu viện của Giáo hội công giáo theo nghi lễ Byzantin. Chính thánh Bênêdictô cũng chịu ảnh hưởng của Ngài qua bản dịch tiếng la Tinh của Ruffinô. Thánh Basiliô chỉ sống năm năm như tu sĩ trong viện. Nhưng điều Ngài đã làm đã viết là phần thành công trực tiếp và lâu bền nhất trong công trình đời Ngài.

Năm 370 khi Đức giám mục Eu-sê-bi-ô qua đời, thánh Basiliô được bầu làm giám mục Cêsaria. Thánh nhân đã lãnh nhận giáo phận trong một hoàn cảnh đầy sóng gió và đã tỏ ra là một chủ chăn bất khuất trong việc bảo vệ đức tin. Lúc ấy lạc giáo Ariô đang ở vào thời cực thịnh. Hoàng đế Va-lăng (valens) đúng vào phái lạc giáo để bách hại Giáo hội. Thánh Grêgoriô đã kể lại cuộc đời thánh Basiliô, có lẽ đã tô điểm thêm đôi chút, nhưng đã cho thấy được cá tính của thánh nhân như thế nào. Va-lăng phái Modestô, một tổng trấn nổi tiếng mưu mô và hung ác đến gặp thánh nhân.

Hắn nói: - Tại sao ông dám chống lại hoàng đế và không theo đạo của Ngài.
Thánh nhân trả lời : - Bởi vì Thiên Chúa là hoàng thượng của tôi, Ngài bảo vệ tôi.

Modestô vặn lại : - Vậy ông coi chúng tôi là thứ gì chứ ?

Thánh nhân trịnh trọng đáp lời : - Tôi chẳng coi các ông là gì cả, bởi vì các ông đã bắt chúng tôi phải có những điều phản nghịch lại thánh ý Thiên Chúa:

Modestô liền dở trò đe dọa: - Ông không biết rằng tôi có thể cho ông nếm mùi sức mạnh của chúng tôi sao ?

Nhưng thánh nhân đã khẳng khái trả lời : - Những hậu quả do sức mạnh của các ông chỉ có thể là tịch biên tài sản, lưu đày, tra tấn hay là sát hại mà thôi. Đối với việc tịch biên tài sản thì người không có gì như tôi làm gì mà phải sợ. Tôi càng không sợ phải lưu đày, bởi vì đâu có Chúa thì đấy cũng là quê hương của tôi. Đối với những tra tấn ông muốn bắt tôi phải chịu, thì quả thật tôi đã quá yếu đuối và không đủ sức để chịu được một cuộc tra tấn thứ hai. Về cái chết, làm sao tôi lại phải sợ, vì nó sẽ sớm đưa tôi về với Thiên Chúa hơn".

Vị tổng trấn ngạc nhiên : - Tôi chưa hề gặp người nào gan dạ như ông.
Và thánh Basiliô bình tĩnh trả lời : - Bởi vì ông chưa nói chuyện với một giám mục nào.

Sau cuộc đàm thoai nẩy lửa này, tình hình lắng dịu một thời gian. Nhưng vì áp lực của bè rối, hoàng đế Valăng tính bắt giám mục Basiliô đi đày. Nhưng ý định bất thành vì ngay đêm trước con ông ngã bệnh nặng, được giám mục viếng thăm và cầu nguyện cho lành, nó cũng đã qua đời vì sự thay lòng đổi dạ của nhà vua. Dầu vậy, dưới áp lực mạnh mẽ của bè rối, vua cũng quyết ký án lệnh phát lưu Đức giám mục. Lần này, ông vẫn thất bại vì ba bốn lần cầm lấy viết thì viết bị hư, cầm đến ấn thì ấn bị bể nát.

Ngoài sự can trường để bảo vệ đức tin chân chính, thánh Basilio còn là một mục tử nhiệt hành và giàu lòng bác ái, Ngài đã liên tục đi thăm viếng từng miền trong giáo phận, Ngài chuyên chăm dạy dỗ đoàn chiên và một số bài giảng của Ngài được lưu giữ tới ngày nay là những công trình thần học rất đáng giá. Ngoài ta thánh nhân còn thương yêu đặc biệt những người nghèo khó bệnh tật. Ngài đã thiết lập một nhà thương, đặt tên là Basiliô (Basiliade) để săn sóc họ.

Thánh nhân đã được sống để chứng kiến cái chết của Valăng lẫn sự tàn lụi của lạc giáo Ariô. Nhưng chẳng bao lâu sau Ngài cũng qua đời vì kiệt sức, ngày 1 tháng giêng năm 379.
Theo dunglac.org

Đức Maria Mẹ Thiên Chúa - Ngày 01 - 01

Ngày 01-01
ĐỨC MARIA, MẸ THIÊN CHÚA

Mẹ Thiên Chúa, đó là phẩm chức cao cả nhất của Đức Maria, chính phẩm chức cao cả này là nền tảng mỗi đặc ân khác dành cho Mẹ. Công đồng Vaticano II đã trình bày các đặc ân liên kết với phẩm chức Thiên Chúa như sau:

·         "Không có gì lạ, nếu các giáo phụ đã thường xưng tụng Mẹ là Đấng toàn thánh, không vương nhiễm một tội nào, như một tạo vật mới do Chúa Thánh Thần uốn nắn và tác thành. Tràn đầy thánh thiện, có một không hai ngay từ lúc thụ thai, Đức Trinh Nữ thành Nazareth được Thiên thần vâng lệnh Chúa đến truyền tin và đã kính chào là "Đầy ơn phườc" (Lc. 1,28). (GH.59).

·         "Được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội nguyên tổ, và sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Nữ Trinh Vô nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con Ngài cách trọn vẹn hơn" (GH.59).

·         "Đức Maria luôn tiếp tục thiên chức làm Mẹ... Thật vậy, sau khi về trời, vai trò của Ngài trong việc cứu chuộc không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn tiếp tục liên lỉ cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời... Vì thế trong Giáo hội, Đức Trinh Nữ Maria được kêu cầu qua các tước hiệu: trạng sư, vị bảo trợ, Đấng phù hộ và Đấng Trung gian" (GH.62)

Như vậy, long trọng mừng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta hãy tỏ một niềm tin vững chắc vào vai trò của Mẹ trong chương trình cứu rỗi nhân loại. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vì Ngài đã sinh ra cho chúng ta Thiên Chúa cứu chuộc. Trong buổi Truyền Tin, chính sứ thần Gabriel đã quả quyết: "Người sẽ thụ thai và sinh con... trẻ sẽ sắp sinh sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa" (Lc 1,31-35). Được Thánh Thần linh hứng, bà Elisabeth cũng đã lên tiếng: "Bởi đâu tôi được thế này, là mẹ Chúa tôi đến với tôi" (Lc1,43). Niềm tin vào chức phẩm cao quí là Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria đã có từ đầu Giáo hội. Chính thánh Phaolô đã viết: "Khi thời viên mãn đến, Thiên Chúa sai con của Người, sinh bởi người Nữ" (Gl 4,4).

Tiếp tục niềm tin đã có từ đầu, các tín hữu còn xác tín hơn nữa do biến cố dẫn tới những xác quyết chắc chắn của Công đồng chung Ephêsô (năm 413). Nestoriô khi ấy bác bỏ tước hiệu Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, ông chỉ chấp thuận Đức Maria là Mẹ Chúa Kitô, vì Ngài chỉ sinh ra xác thể Chúa Kitô thôi, chống lại lời rao giảng của Giám mục Nestoriô, khoảng hai trăm Giám mục đã họp tại Ephêsô ngày 22.6.431, dưới quyền chủ tọa của Thánh Cyrillô thành Alexandrioa. Công đồng này kết án Nestoriô và tuyên bố tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Toàn thể dân thành đã công khai bày tỏ niềm hân hoan trước thành quả này. Họ tổ chức rước đuốc để mừng các nghị phụ công đồng. Cũng từ công đồng này mà có phần sau của kinh Kính mừng: "Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử".

Hợp với niềm hân hoan của dân Chúa dịp công đồng Êphêsô bế mạc, niềm tôn kính dâng lên Mẹ Thiên Chúa ngày một thêm sâu đậm. Vua Giuse Emmanuel nước Bồ Đáo Nha đã xin ông được đặc ân mừng lễ Mẹ Thiên Chúa. Thánh bộ nghi lễ đã ban bố sắc lệnh thiết lập ngày 22 tháng giêng năm 1751 và ấn định vào Chúa nhật đầu tháng năm. Từ đó nhiều nước cũng được hưởng đặc ân này.

Năm 1931, dịp kỷ niệm 1500 năm, công đồng Ephêsô, Đ.G.H Piô XI đã lập lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, kính trọng thể trong khắp Giáo hội vào ngày 11 tháng 10. Chính Đức giáo hoàng Piô XI đã viết : - "Tín điều Mẹ Thiên Chúa là một mối nước mầu nhiệm vô tận, đã tuôn ra mọi đặc ân cho Đức Mẹ và nâng Người lên một địa vị cao sang tuyệt vời bên Thiên Chúa (Lux Veritatis 1931).

Năm 1962, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã chọn lễ kính Mẹ Thiên Chúa làm ngày khai mạc công đồng Vaticanô II.

Đức giáo hoàng Phaolô VI dời ngày lễ vào đầu năm dương lịch, việc dời ngày kính này vào ngày thế giới Hòa Bình, nhấn mạnh thêm ý nghĩa lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa hôm nay.

Đức giáo hoàng Phaolô VI viết : - "Khi canh tân mùa Giáng sinh, mọi người phải chú ý đến việc tái lập lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa vào ngày 1 tháng giêng, đúng phụng vụ Roma từ xưa, nhằm tôn kính việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu rỗi và tôn vinh địa vị đặc biệt, khiến cho "Mẹ rất thánh, đáng tiếp nhận Nguồn sống cho chúng tôi". Lễ này cũng là dịp rất tốt để chúng ta tôn thờ Vua Hòa Bình mới sinh, và nghe lại lời chúc hoà bình của các thiên sứ (Lc 2,14), để cầu Chúa, nhờ sự can thiệp của Nữ Vương Hòa Bình, ban cho ta ơn cao cả nhất là Hòa bình. Vì sự trùng hợp tốt đẹp giữa ngày 1 tháng giêng với ngày thứ tám giáp Lễ Giáng sinh mà chúng tôi đã đặt ngày đó là ngày thế giới hòa bình, mà thế giới mỗi ngày càng hưởng ứng thêm, và thành quả của hòa bình đã phát sinh trong lòng nhiều Người" (ĐGH Phaolô VI. Marialis Cultus, số 5b)
Theo dunglac.org

Thánh Cyrillô Tu Sĩ và Thánh Mêtôđiô Giám Mục

NGÀY 14-02 THÁNH CYRILLÔ TU SĨ VÀ THÁNH MÊTÔĐIÔ GIÁM MỤC (....869 VÀ 884 )
 
Ngày 14-02 Thánh CYRILLÔ Tu Sĩ và thánh MÊTÔĐIÔ Giám mục (....869 và 884 )



Cyrillô và Mêtođiô thuộc về một gia đình nghị viện miền Thessalônica. Triều đình đã muốn xem người con trưởng sáng sủa xinh đẹp như thần đồng. Nhưng đối với anh sự khôn ngoan đáng quí chuộng hơn mọi hư danh trần thế. Người con út có tính cách vừa trầm tư vừa hung hăng hay lý sự nữa. Sau khi theo học ở tại Constantinople, hai anh em đều chíếm giữ những chức vụ thuộc dân sự. Cyrillô làm giáo sư triết học. Sau cùng thì lần lượt họ đạt tới lý tưởng làm linh mục. 

Nhà vua Moravia xin hoàng đế gửi các thừa sai tới. Vì biết tiếng Slave nên hai anh em đã được chọn. Các Ngài đã phát minh ra mẫu tự Slave cũng như văn chương người Slave sau này được mọi người chấp thuận. Cyrillô còn học tiếng Hipri để tranh luận với người Do thái. Hai anh em thừa sai thực hiện hoạt động vừa chính trị vừa tôn giáo. Các Ngài sẽ tổ chức Kitô giáo ở Bulgaria, Moravia và nơi những dân Slave mà bước chân đế quốc đặt tới. 

Một giai thoại chứng tỏ tính khí mạnh mẽ và kỳ khôi của Mêtođiô. Ngài chỉ đích danh được thù nhân người Đức của mình để phá tan họ. Ngài nói:- Các ông chống lại sắt thép, các ông sẽ bể sọ. Và đầy nhiệt thành, Ngài lau mồ hôi và kể lại một ngụ ngôn: 

"Người ta hỏi một triết gia, tại sao ông lại toát mồ hôi như vậy ?" 

Và Ngài thêm vào câu trả lời : - Chính vì tôi đã phải tranh luận với những người đần độn" 

Các giám mục Đức chống lại việc nhà truyền giáo đã đưa ngôn ngữ Slave vào phụng tự mà các Ngài coi như dụng cụ tuyệt hảo trong công cuộc chinh phục của mình. Hai anh em phải đi Roma để biện minh cho mình và được Đức Nicola I ưng thuận.Vị kế nhiệm Ngài còn tấn phong Ngài làm giám mục nữa. Cyrillô đã qua đời tại Roma năm 869 lúc 42 tuổi. 

Mêtodiô còn sống thêm hai mươi năm để truyền giáo cho các dâ tộc Slave. Ngài chịu đau khổ nhiều, bị một thẩm đoàn giám mục miền Bavière tố cáo lạc giáo và bị giam giữ hai năm trong một nơi xa vắng lạnh lẽo. Ngài lại bị mang ách, luôn bị bách hại, bị tố cáo tới Roma là đã làm sai lạc đức tin. Hai lần Ngài phải đi biện minh với Đức Thánh cha và Đức Thánh cha đã coi những lời tố cáo là hư từ. Hoàng đế Basiliô xin Ngài đi Consttantinople là nơi Ngài được tiếp đón nồng hậu. Cũng vị vua này đã muốn gửi Ngài trở lại Russi và Bulgaria, nhưng thánh nhân trở lại Moravia và qua đời tại đó năm 884. 

Hai anh em đã mang văn minh lại cho dân Slave khi truyền bá đức tin cho họ. Các Ngài đồng thời vừa là các tông đồ vừa là các văn hào tiên khởi của dân tộc Slaves. 
Theo dunglac.org

Thánh PhaoLô

Tiểu sử của Thánh Phaolô
(Lễ kính ngày 30 tháng 6)
Sách Tông Đồ Công Vụ cho chúng ta biết khá đầy đủ về thân thế, đời sống và hoạt động tông đồ của thánh Phaolô.
Thánh Phaolô chào đời vào đầu kỷ nguyên tại thành Tácsê. Song thân là người Do Thái nhưng đã gia nhập quốc tịch Roma. Sinh được tám ngày, hai ông bà đem con đi chịu phép cắt bì và đặt tên là Saulê để kính nhớ Saulô vị đế vương thuộc chi họ Bendamin. Saulê hấp thụ nền giáo dục thuần túy Do Thái. Nhà trường chuyên dạy các cổ tục Do Thái, nhất là Thánh Kinh Cựu Ước. Cũng theo cổ tục, dù con nhà giàu và trí thông minh, Saulê cũng phải học một nghề, đó là nghề dệt dạ. Khi mãn trường làng, trường tỉnh, Saulê được coi là thầy thông giáo, là một biệt phái thực thụ. Với hai tước hiệu ấy, Saulê vinh quy về Tácsê phụng dưỡng cha mẹ.
Sau nhiều năm tại Tácsê, Saulê được cử lên Giêrusalem với sứ vụ truyền đạo Do Thái và truy tầm những người tin theo đạo mới, đạo Kitô. Tiêu biểu cho các nạn nhân bị bách hại là thầy phó tế Têphanô. Muốn triệt hại đạo Kitô, Saulê đã tình nguyện xin Caipha cấp giấy và cho người tùy tùng, lên đường đi Đamát truy nã dân Kitô. Sau bảy ngày đường ngựa bay, Saulê và đoàn tùy tùng đã tiến gần thành Đamát với mộng ước sẽ thu nhiều thắng lợi. Ngờ đâu, lúc còn phóng ngựa, Saulê bị một luồng sáng từ trời cao giãi xuống, bao phủ Saulê, quật ngã ngài xuống đất, và trong ánh sáng vang lời phán bảo. Chúng ta hãy nghe chính lời Saulê thuật lại : “Trưa hôm ấy, khi tôi đi dến gần Đamát, bỗng chốc có một luồng sáng từ trời chiếu xuống bao phủ tôi, tôi ngã xuống đất và nghe rõ có tiếng bảo : ‘Hỡi Saulê, Saulê, sao ngươi bắt bớ Ta ? Tôi thưa lại ‘Ông là ai ?’ – ‘Ta là Giêsu Nagiarét ngươi đang tầm nã, bắt bớ’. Đoàn tùy tùng hoảng sợ, họ nom thấy ánh sáng, nhưng không nghe tiếng nói với tôi. Tôi hỏi tiếp ‘Thưa Ngài, tôi phải làm gì bây giờ ?’ – ‘Ngươi hãy chỗi dậy vào thành Đamát, ở đó có kẻ sẽ cho ngươi biết tất cả những việc phải làm’. Ánh sáng đã làm cho tôi mù quáng, không nom thấy gì nữa. Đoàn tùy tùng dắt tôi đi vào thành. Khi ấy, có ông Anania, một nhân vật được toàn thể đồng bào Do Thái mến phục, đến bên tôi mà nói : ‘Hỡi anh Saulê, hãy mở mắt ra mà xem’. Tôi mở mắt ra và trông thấy được. Ông nói với tôi rằng : ‘Thiên Chúa các tổ phụ chúng ta đã tiền định cho anh nhận thánh ý Người, được trông thấy Đấng công chính, và nghe lời Người phán dạy, giờ đây anh còn trì hoãn chi nữa. Anh hãy chỗi dậy và chịu phép Rửa Tội, tẩy rửa các tội lỗi anh đã phạm và kêu cầu Danh Thánh Chúa’. Tôi trở về Giêrusalem. Khi tôi đang cầu nguyện trong đền thờ, tôi được một linh kiến : Tôi trông thấy Chúa Giêsu và Chúa phán bảo tôi ‘Hãy mau rời khỏi Giêrusalem, vì ở đây người ta không tin lời con giảng nữa’. Tôi thưa : ‘Lạy Chúa, chính họ đã biết rằng con đã bắt giam và đánh đòn những người tin Chúa trong các hội đường. Và khi họ đổ máu ông Têphanô, chứng nhân của Chúa, con cũng có mặt ở đấy. Con đã hoan nghênh và giữ quần áo cho các kẻ giết ông Têphanô’. Nhưng Chúa bảo tôi ‘Con hãy đi, Ta muốn sai con đi đến với dân ngoại ở xa xôi’ “ (xCv 22).
Cùng với Banabê, Saulê đến gặp thánh Phêrô và đề nghị Giáo Hội cử một phái đoàn đi truiyền giáo các miền phụ cận. Toàn thể chấp nhận lời đề nghị và tổ chức cuộc bỏ thăm để cử những nhân vật lãnh trách nhiệm đầu tiên đi truyền giáo. Trước khi thi hành, các ngài ăn chay cầu nguyện xin ơn Thánh Linh hướng dẫn. Bỗng chốc ai nấy đều nghe tiếng Chúa Thánh Thần phán bảo : “Hãy tách biệt Saulê và Banabê ra để thi hành công tác đã dự định”… Vì thế, Banabê và Saulê được ủy thác việc đi truyền giáo cho dân ngoại.
Lấy tư cách là trưởng phái đoàn, Banabê đề nghị tới truyền giáo tại đảo Síp (Chypre). Đây là hành trình truyền giáo thứ nhất. Để đánh dấu bước đường truyền giáo hứa hẹn nhiều thành quả tốt đẹp, Saulê từ nay đổi tên là Phaolô. Mỹ tự này ngàn đời sẽ được ghi trong sử xanh của Giáo Hội. Cuộc hành trình này gồm bảy địa điểm truyền giáo chính : Salamina, Papgô, Antiôkia, Icôniô, Líttra, Đécdê và Pécdê. Sau bốn năm hoạt động, Phaolô cùng Banabê và một số kỳ lão trở về Giêrusalem dự Công Đồng bàn về việc ‘chư dân trở lại Kitô giáo có buộc phải cắt bì hay không ?’.
Sau Công Đồng, thánh Phaolô cùng với Sila, Timôtê và Luca khởi sự cuộc hành trình truyền giáo thứ hai. Cuộc hành trình này nhằm ba mục tiêu : Kinh lý các giáo đoàn đã xây dựng lần trước. – Tuyên bố và giải thích thông điệp Công Đồng Giêrusalem. –Thiết lập thêm các cộng đoàn mới : Philipphê, Tétsalônica, Bêrêa, Aten, Corintô, Galata…
Khi đã ổn định các cộng đoàn mới, thánh Phaolô về Antiokia vừa nghỉ ngơi vừa chuẩn bị cho cuộc hành trình thứ ba. Đoàn truyền giáo lần nầy hùng hậu hơn lần trước, gồm các ông Aríttacô, Caiô, Eráttô, Luca, Sêcunđô, Sôphate, Técxiô, Timôtê, Titô và Tikiô. Mục tiêu vẫn là để khích lệ và hoàn chỉnh các cộng đoàn đã thành lập và mở thêm các cộng đoàn mới, mà trung tâm là thành Ephêsô.
Muốn theo dõi đầy đủ công trình truyền giáo của thánh Phaolô, sau cuốn Tông Đồ Công Vụ, chúng ta còn phải đọc 12 thư ngài đã viết, thường được phân loại như sau : Năm thư lớn, một thư cho cộng đoàn Galát, hai thư cho cộng đoàn Corintô, một cho cộng đoàn Roma, hai cho cộng đoàn Técsalonica. – Bốn thư viết trong tù, là thư viết cho cộng đoàn Côlôsêô, cộng đoàn Philippê, cộng đoàn Ephêsô, và cho ông philêmôn. – Ba thư mục vụ, là hai thư viết cho giám mục Timôtê và một thư viết cho Titô.
Thời gian lưu trú ở ngoại quốc đã lâu, thánh Phaolô sắp đăt lại công việc và trở về Giêrusalem. Từ lâu, người Do Thái thù ghét ngài vì nghe biết các thành công truyền giáo của ngài. Họ muốn tìm cách triệt hạ ngài. Thì đây, là dịp may họ đang chờ đợi : Phaolô vừa về tới Giêrusalem, họ đã ùa tới bắt trói và bỏ tù ngài trong suốt hai năm tại ngục thất Xêsarê. Biết âm mưu thâm độc của người Do Thái là muốn giết mình, thánh Pholô liền nại tới quyền công dân Roma, và đòi được đưa về xử tại Roma. Lời xin của thánh nhân được chấp nhận, người ta giải ngài về Roma cùng với một số phạm nhân khác…
Về Roma, thánh Phaolô bị giam giữ ít lâu, rồi được trả tự do. Nhưng qua năm 64, với tính ngông cuồng, hoàng đế Nêrô đã bí mật cho phóng hỏa cả kinh thành Roma. Dân chúng nổi loạn chống hoàng đế, hoàng đế đổ lỗi cho dân Do Thái-Kitô. Sắc lệnh bách hại được ban hành, nhiều kitô hữu bị bắt giam và ra tòa lãnh án. Thánh Phaolô cùng chịu chung số phận với các tín hữu. Ngài bị bắt và bị án tử hình… đúng như lời ngài đã nói trước : “Chẳng những tôi vui lòng chịu trăng trói, gông cùm, mà lại chịu chết vì Chúa Giêsu nữa” (Cv 21,13). Lòng khao khát đó ngày nay đã thành sự thực. Thánh Phaolô hoàn toàn tọai nguyện. (Trích sách Hạnh Các Thánh của Hương Việt, tháng 6, trang 148-156).
Lạy Chúa Giêsu, cuộc trở lại của thánh Phaolô và những hoạt động truyền giáo của ngài làm vững mạnh đức tin của chúng con vào ơn sủng của Chúa. Xin Chúa hoán cải Giáo Hội, xin Chúa ban cho mỗi người trong Giáo Hội có thể hiên ngang nói được như thánh Phaolô : “Tôi đành mất tất cả để được Chúa Kitô ; Không phải tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi”. Amen
Theo gphaiphong.org

Ngôi Mộ Thánh Phaolô

Mộ Thánh PhaolôVATICAN CITY (VIS) - Tại Văn phòng Báo chí Tòa thánh sáng nay, Hồng y Andrea Cordero Lanza di Montezemolo, linh mục quản hạt vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành, và giáo sư Ulderico Santamaria, giám đốc phòng thí nghiệm khoa học thuộc Viện Bảo tàng Vatican, đã chủ trì một buổi họp trình bầy về ngôi mộ Thánh Phaolô.
Hồng y Cordero giải thích rằng hai năm trước đây ngài đã đề nghị với Đức giáo hoàng nên đặt ngôi mộ Thánh Phaolô làm đối tượng khảo sát khoa học. Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI chấp thuận lời đề nghị đó, nhưng chỉ thị rằng kết quả chỉ được loan báo vào lúc kết thúc năm kính Thánh Phaolô. Đó là lý do tại sao các kết quả đã được giữ kín cho tới nay.
Giáo sư Santamaria nhấn mạnh vào các phương diện kỹ thuật trong cuộc nghiên cứu. Ông giải thích rằng một lỗ nhỏ được khoan nơi cổ mộ để luồn máy dò vào. Những mảnh vải mầu xanh, những miếng vải mầu tím dệt chen lẫn các sợi chỉ vàng, những hạt trầm hương mầu đỏ và những mảnh xương đã được khám phá thấy. Dùng phương pháp xác định niên đại bằng carbon trên các vật thể hữu cơ cho biết những gì tìm thấy được trong cổ mộ thuộc về một con người sống ở thế kỷ thứ nhất hoặc thứ hai. Đức giáo hoàng tuyên bố trong buổi lễ kết thúc Năm kính Thánh Phaolô hôm 28 tháng 6: "Điều đó hầu như xác định truyền thống nhất trí và không tranh cãi từ lâu cho rằng đây là hài cốt của Tông đồ Phaolô, và tâm hồn chúng ta tràn đầy mối xúc cảm sâu xa."
Đức hồng y cũng giải thích rằng có thể Đức giáo hoàng không loại trừ khả năng tiến hành một cuộc khảo sát ngôi cổ mộ của Thánh Phaolô một cách cặn kẽ hơn. Tuy nhiên, ngài nói tiếp, Đức thánh cha không muốn việc đó xảy ra trong Năm kính Thánh Phaolô, bởi vì để khai mở ngôi cổ mộ, cần phải tháo dỡ bàn thờ nơi Đức giáo hoàng dâng thánh lễ và lọng tán do Arnolfo di Cambio thiết kế mà theo lời kết luận của hồng y, là một công tác khó khăn và tế nhị.

Theo liendoanconggiao.net