Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011

Phân Biệt Thừa Tác Vụ và Thừa Tác Viên

Nói đến thừa tác vụ và thừa tác viên, ta gặp ngay khá nhiều hỗn độn gây hiểu lầm, nên cần phân biệt rõ ý nghĩa của các từ ngữ ấy và cách sử dụng chúng. Những từ ngữ trên gây hỗn độn vì hai lý do chính sau đây:

Thứ nhất, khi nói đến các thừa tác vụ trong Giáo hội, ta liền nghĩ tới một vài đặc tính của ngôn ngữ. Vì hạn từ "thừa tác vụ" hầu như trở thành cây dù che cho rất nhiều ý niệm khác nhau. Có quá nhiều loại việc và phục vụ đã được đơn giản và một cách nào đó lầm lẫn gọi là "thừa tác vụ".

Thứ hai, thừa tác vụ đã chịu không biết bao nhiêu cách tiếp cận khác nhau. Nhiều luật lệ và qui định đã được đưa ra mà không qui chiếu đến cái nhìn tổng thể thế nào là thừa tác vụ trong Giáo hội. Thành ra ta bị mù mờ lẫn lộn về ý niệm.

1. Tình Huống Hiện Nay:

Tình huống hiện nay là như thế này. Trước hết, có một thừa tác vụ được xác định rõ ràng, đó là thừa tác vụ do bí tích Truyền Chức Thánh mang lại. Hiến chế về Giáo hội Ánh Sáng Muôn Dân (ASMD-Lumen Gentium) đã cho ta một định nghĩa rõ ràng về thừa tác vụ này như sau: "thừa tác vụ giáo sĩ do Chúa thiết lập đã được đảm nhiệm ở nhiều cấp bậc khác nhau do những người mà ngay từ thời cổ xưa đã được gọi là giám mục, linh mục và phó tế" (ASMD 28). Họ là các thừa tác viên được thụ phong vì họ được Thiên Chúa mời gọi đảm nhiệm một ơn gọi phục vụ đặc biệt. Nhóm này đã được định nghĩa một cách rõ ràng, vì họ là thừa tác viên do hiệu quả bí tích. Không ai, ngay cả các thầy dòng khổ tu nhiệm nhặt nhất, sau khi đã lãnh nhận bí tích Truyền Chức Thánh, mà lại không tham dự thừa tác vụ này.

Thứ đến, có hai thừa tác vụ giáo dân đã được miêu tả chuyên biệt. Đó là thừa tác vụ "thày tư" (acolyte) phục vụ thánh thể và thừa tác vụ đọc sách (lector) phục vụ Lời Chúa. Hai thừa tác vụ này, vốn đã có từ những ngày đầu của Giáo hội, nay được Đức Phaolô Đệ VI thiết lập lại qua Tự Sắc 'Ministeria Quaedam' năm 1973. Trong văn kiện đó, các chức nhỏ xưa kia được phong ban như là những bước chuẩn bị lên chức linh mục, được bãi bỏ và thay thế bằng hai thừa tác vụ vừa kể. Với các qui định mới này, Đức Giáo Hoàng muốn nhấn mạnh sự khác nhau giữa hai bậc giáo sĩ và giáo dân. Ngày nay, không ai được kể là giáo sĩ trước khi được thụ phong phó tế, tuy nhiên hai thừa tác vụ vừa kể vừa được phong cho giáo dân vừa được phong cho các ứng viên chuẩn bị làm linh mục. Trên thực tế, phần lớn sự tối nghĩa và các khó khăn liên quan đến hai thừa tác vụ thánh thể và đọc sách đã phát sinh từ đòi hỏi này là chúng cũng phải được phong cho các linh mục tương lai trước khi họ được lãnh chức phó tế. Tài liệu trên xác định rõ ràng rằng phụ nữ không được lãnh nhận hai thừa tác vụ đó, một điều khoản khiến nhiều hội đồng giám mục trên thực tế đã không áp dụng hai thừa tác vụ này cho hàng ngũ giáo dân trong xứ sở họ. Tài liệu trên cũng xác định rằng các hội đồng giám mục có thể thêm các thừa tác vụ khác nữa nếu hoàn cảnh đòi hỏi. Tuy nhiên cho đến nay, điều đó chưa thấy xẩy ra ở nơi nào.

Thứ ba, ý niệm thừa tác vụ thường được sử dụng với nghĩa rộng để chỉ bất cứ việc phục vụ nào do những người đã rửa tội thực hiện trong hiệp nhất với Chúa Kitô. Công Đồng Vatican II đôi khi sử dụng hạn từ này theo nghĩa này. Tại nhiều nơi trong Giáo hội, dường như có thói quen coi bất cứ việc phục vụ tha nhân nào cũng là 'thừa tác vụ' theo một nghĩa nào đó và vì vậy cùng chia sẻ thừa tác vụ của Chúa Kitô. Do vậy, mọi việc phục vụ, mọi hoạt động Kitô giáo, đều được nghĩ như là các thừa tác vụ của Giáo hội và các cá nhân như là những thừa tác viên. Điều này theo thiển ý không giúp ích bao nhiêu nếu không muốn nói là sai lầm.

Thành ra ở đây cần phải làm cho vấn đề được sáng tỏ và mạch lạc. Bộ Giáo Luật mới đã miêu tả rõ rệt các quyền lợi và trách nhiệm của người giáo dân và cách thế họ được mời gọi tích cực chia sẻ sứ mệnh của Giáo hội. Lối phát biểu, đúng như lòng mong chờ của mọi người, rất tỉnh táo đúng mức và theo ngôn từ luật lệ. Điều 225 nói rằng: "Xét vì các giáo dân cũng như mọi tín hữu được Thiên Chúa ủy thác làm việc tông đồ do Phép Rửa tội và Phép Thêm sức, nên họ có nghĩa vụ tổng quát và có quyền lợi xét từng cá nhân hoặc kết hiệp thành hiệp hội, phải làm sao để sứ điệp cứu rỗi của Thiên Chúa được mọi người khắp thế giới biết đến và đón nhận."

Điều luật trên tiếp tục nói rằng: "Nghĩa vụ này lại càng thôi thúc hơn trong những hoàn cảnh mà chỉ có thể nhờ các giáo dân, người ta mới có thể nghe theo Phúc âm và biết Chúa Kitô". Ở đây ta thấy Giáo hội minh nhiên nhìn nhận rằng có những hoàn cảnh trong đó sứ mệnh của Giáo hội chỉ có thể được làm trọn qua các giáo dân. Điều Luật khác còn minh nhiên hơn nữa: "Nơi nào nhu cầu Giáo hội đòi hỏi và thiếu thừa tác viên, thì các giáo dân dù không có tác vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc, tỉ như thi hành tác vụ Lời Chúa, chủ toạ các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các qui tắc luật định" (Điều 230, tiết 3).

Như thế, Giáo hội thừa nhận rằng người giáo dân ngoài thừa tác vụ chung cho mọi tín hữu Kitô trong việc tham dự vào sứ mệnh của toàn thể Giáo hội, đôi lúc và trong nhiều hoàn cảnh còn phải nhận lãnh phần lớn trách nhiệm thi hành sứ mệnh trên. Họ có thể thi hành các nhiệm vụ thừa tác ngay khi không được liệt vào hàng thừa tác vụ chính thức.

Một điều cũng rõ nữa là trong sinh hoạt Giáo hội, có những hoạt động và phục vụ không được nhìn nhận là thừa tác vụ theo cùng nghĩa như các ‘thầy đọc sách’ và các 'thầy tư’. Tuy nhiên chúng cũng quan yếu không kém đối với sứ mệnh của Hội thánh. Các công việc ấy cũng đòi phải đuợc nhìn nhận chuyên biệt và được huấn luyện cẩn thận để có được những người khác với các giáo dân khác là những người chỉ có một trách nhiệm tổng quát đối với sứ mệnh của Giáo hội. Một trong những nhóm này hiển nhiên là các giáo lý viên. Giáo luật cho hay: "Các Đấng bản quyền phải chăm lo sao cho các giáo lý viên được chuẩn bị thích đáng để chu toàn trách vụ của họ cách đúng đắn, nghĩa là phải liên tục đào tạo họ, ngõ hầu họ có được kiến thức thích đáng về giáo huấn của Giáo hội cũng như học hỏi các qui phạm thích đáng của các khoa sư phạm cả trong lý thuyết lẫn trong thực hành" (Điều 780).

Các đóng góp chuyên biệt đáng kể của các giáo lý viên trong các giáo hội cũ và mới dường như đã đủ không cần phải nói thêm ở đây; nơi các xứ truyền giáo, vai trò của họ thật không thể nào thay thế được. Thế nhưng chức năng của các giáo lý viên lại chưa được dành cho một sự nhìn nhận giống như các thừa tác vụ chuyên biệt phục vụ phụng vụ thánh.

2. Suy Nghĩ Mục Vụ:

Trên đây chỉ là vài hàng chấm phá về trạng huống ngày nay. Rõ ràng trạng huống ấy không mấy thỏa đáng, thực tế khá hàm hồ tối nghĩa. Trong đó có những điều cần phê phán và có những điều cần cải tổ cách xây dựng. Cơ cấu hiện nay không thoả đáng nếu ta nhìn riêng vào hai thừa tác vụ thánh thể và đọc sách đã được nhìn nhận chính thức. Trong chủ đích, chúng đuợc coi là các thừa tác vụ giáo dân nhưng trong thực tế chúng vẫn tiếp tục có hướng giáo sĩ. Vì các ứng viên linh mục cũng vẫn còn được tạm thời ủy nhiệm cho các thừa tác vụ này. Chúng lại chỉ dành riêng cho nam giới, mặc dù, trong việc canh tân Bộ Giáo Luật, đã có nguyên tắc hướng dẫn là phải làm nhẹ, khi có thể, bất cứ hình thức kỳ thị nào giữa nam giới và nữ giới. Cũng là điều không thỏa đáng khi không có thừa tác vụ mới nào được đưa vào kể từ một thập niên qua dù việc ấy đã được dự liệu. Ngoài ra cũng còn lộn xộn trong việc ủy nhiệm các thừa tác viên cũng như phạm vi của sự ủy nhiệm này và cách thế thiết định (installation) họ.

Chính vì thế, tháng 10 năm 1987, tại Thượng hội đồng giám mục thế giới họp tại Rôma, Đức Hồng Y Basil Hume của Anh Quốc đã đưa ra một số đề nghị để làm sáng tỏ ý nghĩa của thừa tác vụ như sau. Theo Ngài, nên áp dụng một cấu trúc duy nhất cho toàn bộ lãnh vực thừa tác vụ, một cấu trúc bắt rễ chắc chắn trong quan điểm của chúng ta về Giáo hội và nhằm mục đích có được sự tham dự có hiệu quả hơn vào sứ mệnh của Giáo hội. Ngài đề nghị chỉ nên dùng hạn từ thừa tác vụ và thừa tác viên cho những hoạt động và những con người có thể đại diện cho cộng đoàn tín hữu một cách nào đó và hành động với sự ủy quyền của giám mục hoặc vị đại diện giám mục. Điều này không hề chối bỏ hoặc giảm thiểu lời mời gọi và trách nhiệm phổ quát của mọi chi thể trong Nhiệm thể Chúa Kitô phải trở thành hiện thân của Ngài trong thế giới. Điều này tất cả chúng ta đều làm khi, với tư cách Dân Chúa, chúng ta thực hiện các công việc thường ngày, khích lệ, xây đắp, làm chứng, lớn lên trong sự thánh thiện bản thân. Nhưng những công việc ấy chỉ nên miêu tả như là việc tông đồ Kitô giáo; mọi thừa tác vụ đều là việc tông đồ, nhưng không phải bất cứ việc tông đồ nào cũng là thừa tác vụ. Dưới ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần, ta đem mọi tài năng và năng khiếu của mình phục vụ việc tông đồ nói trên. Nhưng thừa tác vụ và thừa tác viên có một nghĩa chuyên biệt hơn và hạn chế hơn thế.

3. Ba Loại Thừa Tác Vụ:

Đức Hồng y đề nghị ra ba loại thừa tác vụ trong Giáo hội đó là thừa tác vụ thụ phong (ordained), thừa tác vụ thiết lập (instituted) và thừa tác vụ ủy nhiệm (commissioned).

Đi từ dưới lên, các thừa tác viên ủy nhiệm bao gồm những người, vì những khả năng, tài năng hoặc vai trò chuyên môn đặc biệt, được cộng đoàn giáo hội địa phương ủy nhiệm cho các trách vụ chuyên biệt trong một thời kỳ đặc thù và giới hạn nào đó. Tỷ dụ, những viên chức quản lý công việc của xứ đạo hay giáo phận, những người phụ trách việc thù tiếp hoặc chào đón nhân danh cộng đoàn, những người chăm nom người già hoặc những người quanh quẩn trong nhà ở một khu vực nào đó. Một kiến trúc sư, một nhà nghệ sĩ hay một nhà thầu xây cất được giáo xứ mời để xây nhà thờ, trường học hay một cơ sở cộng đòan nào khác cũng có thể là các thừa tác viên ủy nhiệm cho đến khi hoàn thành công tác. Các thành viên trong hội đồng giáo xứ, các thủ lãnh giới trẻ, các đại biểu dự các hội nghị, những người đặt chương trình và hướng dẫn mục vụ phụng vụ cũng nên được để riêng ra và ủy nhiệm để hành động nhân danh cộng đoàn. Thừa tác vụ ủy nhiệm như thế liên quan đến những người không những tham gia việc tông đồ và chia sẻ sứ mệnh của Giáo hội một cách chung mà thêm vào đó còn được kêu gọi phục vụ cách chuyên biệt hơn trong cộng đoàn và nhân danh cộng đoàn vì họ có những tài năng đặc biệt và đảm nhiệm những trách nhiệm đặc biệt. Thừa tác vụ này có thể được miêu tả như một chức vụ (office) và có thể được phong ban (confer) với một nghi thức phụng vụ nào đó hoặc không cũng được. Thừa tác vụ này sẽ kéo dài cùng thời gian với công tác đảm nhiệm; thí dụ, các thành viên hội đồng giáo xứ hoặc các ban mục vụ có thể được ủy nhiệm bao lâu họ còn là thành viên của các ban đó; một nhạc sĩ sẽ còn là thừa tác viên ủy nhiệm bao lâu ông còn đảm nhận công việc với cộng đoàn.

Việc nhìn nhận loại phục vụ này như một thừa tác vụ có cái giá trị của nó. Vì không gì đúng cho bằng các cá nhân được nhìn nhận và xác nhận khi họ đảm nhiệm những trách vụ có tầm mức quan yếu đối với cộng đoàn. Một số trong các trách vụ này đi xa hơn việc xây đắp nhiệm thể Đức Kitô và liên hệ nhiều hơn đến vấn đề sứ mệnh. Vì trong chúng, ta thấy ý niệm giáo xứ sinh hoạt và làm việc như một 'công đồng' (in council), nghĩa là như một cơ thể sống động. Dần dà, ta sẽ chấp nhận ý niệm coi các hội đồng giáo xứ như phương thế phát triển tinh thần đồng trách nhiệm thực sự và thực thi lý tưởng hiệp thông tại địa phương. Ta cần đi xa hơn, ít nhất là thỉnh thoảng và cho những phạm vi quan tâm đặc thù, với sự phát triển ý niệm cho rằng giáo xứ, được xây dựng trên sự hiệp nhất nhiệm tích, phải hành động một cách chính thức và theo tinh thần hiệp đoàn (corporately) để chu toàn sứ mệnh của Chúa Kitô trong một nơi chốn đặc thù. Như thế, giáo xứ, dưới sự lãnh đạo của vị mục tử, có thể chuẩn nhận các ứng viên cho loại thừa tác vụ này, ủy nhiệm cho họ nhân danh cộng đoàn, nhận các báo cáo của những người nay đã chính thức có trách nhiệm phải báo cáo cho mình và nâng đỡ cũng như khuyến khích họ xuyên suốt thời gian phục vụ của họ. Một thí dụ có thể là gửi một thanh niên đi làm việc tại một quốc gia thuộc Thế giới thứ ba. Với phương thức này, giáo xứ hoặc giáo phận có thể cùng liên hiệp với nhau như một cơ phận (corporately) để đẩy xa hơn sứ mệnh mà Chúa Kitô đã tự nhận cho mình tại hội đường Nagiarét xưa, trong khi vẫn không làm giảm sự can dự của mọi tín hữu khác. Và kinh nghiệm cũng cho hay thừa tác vụ được đảm nhiệm theo lối nhân danh cộng đoàn này có thể biến cải và canh tân sự cam kết và lý tưởng bản thân của chính các thừa tác viên ủy nhiệm.

Loại thừa tác vụ và thừa tác viên kế tiếp có thể miêu tả là "thiết lập". Ở đây ta theo sát hơn ý niệm về thừa tác vụ của Đức Phaolô VI trong Tự sắc 'Ministeria Quaedam'. Các thừa tác vụ này nên được truyền cho giáo dân và phải có liên hệ đến đời sống bí tích của Giáo hội. Khác với thừa tác vụ ủy nhiệm, loại thừa tác vụ thiết dựng này đòi các thừa tác viên phải dấn thân trong một thời hạn lâu hơn và phải được nhậm chức (inaugurated) bằng một nghi lễ ‘thiết lập’ (installation) để chính thức tiếp nhận chức vụ. Các thừa tác viên thiết lập phải được chuẩn bị để nhận lãnh vai trò của mình và phải được nâng đỡ bằng việc huấn luyện sơ khởi và liên tục (in-service) do đức giám mục giáo phận lo liệu. Các ứng viên phải là những người được giám mục, hay các cố vấn của ngài, xét là xứng đáng. Loại thừa tác vụ này cũng phải có đặc tính công khai vì nó liên hệ rất gần gũi với phụng vụ và việc thông truyền Lời Chúa. Hai thừa tác vụ đọc sách và giúp phụng vụ thánh thể được Đức Phaolô VI nêu danh trong Tự sắc 'Ministeria Quaedam' rất khít khao thuộc loại thừa tác vụ này, tuy nhiên có thể thêm vào đó các thừa tác vụ khác. Trên đây đã nhắc đến thừa tác vụ của giáo lý viên. Đã đành, mọi người trong Giáo hội đều đóng vai trò thông truyền đức tin, và trách nhiệm đặc biệt là của cha mẹ ông bà, nhưng hiển nhiên có một thừa tác vụ dành cho những người đảm nhận nhiệm vụ này cách công khai và chính thức hơn. Vì tầm ưu tiên gắn liền với mục vụ gia đình trong thời đại ta và nhu cầu khẩn thiết phải cổ vũ một đời sống gia đình bền vững và hạnh phúc, tưởng cũng cần thêm rằng các huấn đạo viên hôn phối (marriage counsellor) nên được kể vào loại thừa tác vụ này. Vì mối liên hệ của họ với bí tích hôn phối thật là gần gũi và hiển nhiên. Ngoài ra, ngày nay ta thấy các nữ tu phụ tá giáo xứ (parish sister) cũng như các phụ tá mục vụ (pastoral assistant) đóng vai trò khá chủ chốt trong các giáo xứ. Họ đang góp phần làm phong phú toàn bộ việc thi hành mục vụ. Thiết tưởng việc phục vụ của họ cũng đáng được kể là thừa tác vụ thiết lập. Tuy nhiên, không nên bạ bất cứ hình thức phục vụ nào cũng phong là thừa tác vụ, ngay cả những phục vụ liên hệ gần gũi với các bí tích. Chỉ những phục vụ nào đáp ứng những nhu cầu hiển nhiên và thúc bách của cộng đoàn, có liên hệ trực tiếp tới đời sống bí tích của Giáo hội và việc công bố Lời Chúa mới nên coi là thừa tác vụ. Cũng cần tránh việc lạm dụng phát triển bừa bãi các thừa tác vụ loại này, kẻo vô tình ta sẽ giáo sĩ hóa cả hàng ngũ giáo dân. Loại thừa tác vụ này không cần phải là một định chế phổ quát. Thực vậy, nên để các hội đồng giám mục thiết lập lấy theo nhu cầu và hoàn cảnh quốc gia hoặc giáo phận. Tuy nhiên nên mở rộng loại thừa tác vụ này cho cả nam lẫn nữ giới, cũng như nên dành riêng cho giáo dân chứ không như những bước chuẩn bị tiến lên chức linh mục. Phép Rửa đủ là lý do lãnh nhận thừa tác vụ này, vì nó chia sẻ các vai trò tiên tri, tư tế và vương giả của Chúa Kitô. Thượng hội đồng Giám mục năm 1987 đã cân nhắc các đề nghị trên cũng như cân nhắc tự sắc 'Ministeria Quaedam'. Các Nghị phụ ủng hộ việc duyệt xét tài liệu trên theo kinh nghiệm và nhu cầu địa phương. Thiển nghĩ, trong vấn đề này, ta cũng nên học hỏi kinh nghiệm phong phú của các giáo hội Kitô giáo anh em.

Hai thừa tác vụ trên khác biệt với thừa tác vụ thứ ba, tức thừa tác vụ thánh và thụ phong. Các thừa tác viên thụ phong được Chúa kêu gọi sống một cam kết suốt đời, và để sống sự cam kết ấy họ được chuẩn bị rất cẩn thận. Ơn gọi và sự chuẩn bị ấy được đóng ấn bằng dấu ấn bí tích khi thụ phong. Để phục vụ anh em trong sự cộng tác với giám mục hoặc bề trên nhà dòng nếu họ tận hiến trong đời sống tu trì. Ba bậc trong thừa tác vụ thánh này là giám mục, linh mục và phó tế đã được chứng nghiệm ít nhất từ thế kỷ thứ hai và được Công đồng Vatican xác nhận. Trong những lúc xẩy ra các biến đổi xã hội cũng như phát triển về thần học sâu sắc, vai trò và thừa tác vụ của những người thụ phong không tránh khỏi bị nhiều áp lực và kinh qua nhiều biến đổi. Quan điểm thần học về Giáo hội như một koinonia hay hiệp thông và việc giảm không nhấn mạnh nhiều đến cấu trúc phẩm trật đã mang lại nhiều hậu quả sâu rộng đối với cái nhìn của chúng ta về thừa tác vụ tấn phong. Đức giám mục và vị linh mục đại diện ngài ở cấp giáo xứ không còn được nhìn như những đỉnh tháp chót vót đơn độc và đầy quyền uy nữa mà như trái tim của cộng đoàn, hành xử thừa tác vụ xứ ngôn và bí tích, biểu tượng và suối nguồn của sự hiệp nhất cũng như hiệp thông đức tin và tình yêu là chính giáo hội địa phương. Phương cách thực thi thừa tác vụ thụ phong đã phản ảnh một phát triển mới của thần học về Giáo hội. Không còn thích hợp nữa hiện tượng thừa tác vụ linh mục được thi hành một cách tách biệt đầy huy hoàng bóng nhoáng hoặc dưới hình thức chuyên chế thánh thiện. Sự tham dự của toàn thể Dân Chúa vào sứ mệnh và thừa tác vụ của Chúa Kitô đòi phải tham khảo, cộng tác và chia sẻ.

4. Cơ Thể Duy Nhất:

Nói như thế không có nghĩa là làm giảm thế giá của các linh mục trong tư cách chia sẻ thừa tác vụ của giám mục tại một giáo hội đặc thù, tức giáo phận. Các cha xứ vẫn, và phải, đưa ra các quyết định. Không phải ai ai cũng thấy điều này dễ dàng. Nhiều căng thẳng có thể chồng chất nơi giáo xứ hoặc giáo phận nếu các mục tử hoặc giáo dân không đếm xỉa gì tới sợi dây duy nhất nối kết họ lại với nhau thành một cơ thể duy nhất của Chúa Kitô. Chúng ta không nên suy nghĩ theo những hạn từ thượng đẳng và quyền lực nhưng phải là hạn từ phục vụ thương yêu, mỗi người biết nhận ra nơi nhau khuôn mặt và sự hiện diện của Chúa Kitô. Để cộng đoàn có thể lớn lên trong sự sống và tình yêu Thiên Chúa, người ta phải biết nhìn nhận và kính trọng thừa tác vụ của giám mục hiểu như một phục vụ và như trung tâm hiệp nhất nhân danh Chúa Kitô. Linh mục, người chia sẻ thừa tác vụ của giám mục tại giáo xứ của mình, phải biết nhận trách nhiệm và được giáo dân chấp nhận trong cùng một tinh thần. Thế giá của linh mục không do các thành viên của cộng đoàn ban cho nhưng do chính chức linh mục đem lại vì lợi ích của cộng đoàn. Một hiểu biết sâu sắc hơn về mầu nhiệm của Giáo hội chắc chắn sẽ tác động tới cả việc thi hành lẫn chấp nhận uy quyền (authority) trong Giáo hội.

Trong phúc đáp cho Đại hội Mục vụ Toàn quốc năm 1980, Các Giám mục Anh và Wales đã viết như sau: "Chúng tôi tin rằng vai trò được linh hứng từ Phúc Âm của các giáo dân càng có hiệu quả, thì vai trò thiêng liêng của linh mục càng thoả mãn cũng như căn tính thừa tác vụ của các ngài càng rõ ràng hơn. Sự cộng tác không hề làm mờ nhạt sự khác nhau giữa các thừa tác vụ. Nó làm sáng tỏ sự khác biệt ấy và cho thấy các thừa tác vụ phải bổ xung nhau trong sinh hoạt và sứ mệnh của gia đình Giáo hội" (Dân Phục Sinh, 30).

Sự hiểu biết mới về Giáo hội đang từ từ nhưng chắc chắn biến đổi các thái độ và tập tục của ta. Với việc hiểu biết có tính cách thánh kinh nhiều hơn, mọi kiểu thức trong liên hệ mục vụ của chúng ta đang được tái thẩm định từ căn bản. Một trong những hậu quả của thần học về koinonia (giáo hội như hiệp thông) và của ý thức ngày càng tăng về việc mọi người rửa tội đều chia sẻ thân thiết sự sống và tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi chính là càng ngày ta càng học được cảm thức sâu sắc hơn để tin tưởng vào Chúa và vào nhau. Tin tưởng nhau là biết lắng nghe nhau như những người sở hữu phần nào Thánh Thần Thiên Chúa. Mỗi người trong chúng ta đều có một cái gì quí giá để đóng góp cho nhau; mỗi người đều có một chứng ngôn để cho đi. Vì Chúa Kitô đã ủy thác Giáo hội Ngài cho mọi người chúng ta, đến lượt ta, ta được mời gọi thâm hậu hóa lòng tin tưởng của ta vào Thánh Thần của Ngài và vào nhau. Điều này hẳn phải dẫn ta đến một Giáo hội biết lắng nghe, biết học hỏi, biết chuẩn bị để làm việc trong tinh thần cộng tác mà không thao túng và kỳ thị.

5. Thừa Tác Vụ Có Tính Hợp Tác:

Tại Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1987, một phần của diễn trình trên được miêu tả là 'thừa tác vụ hợp tác'. Một quan sát viên giáo dân người Anh, Cô Pat Jones, là người đầu tiên phác thảo ý niệm này trước các giám mục. Cô diễn tả ý niệm đó như là 'giáo dân, linh mục và tu sĩ cùng chia sẻ các tài năng của mình, làm việc với nhau trong tin tưởng và tín thác lẫn nhau'. Cô nói tiếp: "Chúng ta cần cộng tác trong thừa tác vụ vì cộng tác biểu lộ bản chất của Giáo hội một cách hiệu quả nhất. Chúng ta cần cộng tác vì tự nó cộng tác đào tạo nên tinh thần cộng đoàn cho toàn thể giáo xứ. Khi người ta nhìn thấy thừa tác vụ có tính cộng tác là họ hiểu ngay chữ 'chúng ta' có nghĩa gì. Họ có được sự an tâm và thúc đẩy khi tham dự vào thừa tác vụ và sứ mệnh... Quan trọng nhất, thừa tác vụ có tính cộng tác có nghĩa là sự đào luyện được dành cho mọi người chứ không chỉ một số nhỏ vì nó thu hút nhiều người hơn vào hàng ngũ lãnh đạo. Nó kêu gọi phải nhìn nhận và sử dụng những quà phúc bất tận của Chúa dành cho mọi người như là ưu tiên trong việc đặt kế hoạch mục vụ."

Quan niệm trên và việc thực hiện nó trong thực hành được tin là bước tiến tốt nhất để phát triển giáo xứ và các cộng đoàn vốn có khả năng biến đổi các hoàn cảnh địa phương của mình. Thừa tác vụ có tính cộng tác là thí dụ điển hình của tính liên thuộc (interdependence), phải được coi là đặc điểm của Giáo hội và mọi kinh nghiệm nhân bản của ta. Cộng tác và chia sẻ không phải là chuyện dễ thực hiện và duy trì. Chúng không thể sống còn nếu chỉ được coi như việc chia sẻ quyền hành hay hơn một chút. Giáo hội không phải là một định chế để theo đuổi và thi hành quyền hành. Từ chính định nghĩa, thừa tác vụ liên hệ với phục vụ. Cho nên, thừa tác vụ có tính cộng tác là kết quả của việc từ bỏ thái độ tự xác quyết và phục vụ tư lợi. Nó chỉ triển nở khi các thừa tác viên được chuẩn bị để trở thành các máng chuyển tình yêu và sự chữa lành của Chúa đến người khác và biết nhận ra hình ảnh và sự sống của Chúa trong người khác.

6. Chuyện Thánh Chuyện Đời:

Cộng tác và liên thuộc là chủ yếu nếu ta muốn vượt qua các tập tục, các thói quen suy nghĩ và các phương thức thi hành thừa tác vụ vốn nặng tính nhị nguyên hơn là hiệp thông. Nhiều người thích tạo nên tính lưỡng phân giữa chuyện thánh và chuyện đời (sacred & secular), và điều này dẫn họ tới một đáp trả không thực tế trong Giáo hội. Tuy nhiên, quả là lầm nếu ta cho rằng đời sống bên trong của Giáo hội và giáo xứ nên để cho các giáo sĩ lo, còn việc cứu vớt xã hội phàm trần thì nên dành riêng cho giáo dân.

Chúng ta đang dần hiểu ra rằng chủ nghĩa nhị nguyên ấy không thể nào duy trì được. Thân thể duy nhất của Chúa Kitô chỉ có một sứ mệnh và một thừa tác vụ, tuy được thực hiện khác nhau, cho một thế giới, một nhân loại, một sáng thế. Mọi người đã được rửa tội đều được mời gọi tham dự vào thừa tác vụ và vào sứ mệnh này, mặc dù một số ít sau đó được mời gọi xa hơn tham dự vào thừa tác vụ thụ phong. Ở bất cứ lãnh vực nào, dù được coi là thánh hiến hay thế tục, toàn dân Chúa đều tham dự vào. Hiệu quả là các thừa tác viên thụ phong cũng như các thừa tác viên giáo dân đều có vai trò cộng tác vào cả Giáo hội lẫn trần đời; các thừa tác viên giáo dân có nhiều chuyện đóng góp vào việc thánh cũng như các thừa tác viên thụ phong có nhiều chuyện đóng góp vào việc đời.

Hiện vẫn chưa có được sự lượng giá rõ ràng và phổ quát trong toàn thể dân Chúa về sự cao cả trong ơn gọi và sứ mệnh của họ. Quá thường khi, vẫn còn tồn tại cái chủ nghĩa nhị nguyên tiềm ẩn kia, cái vực ngăn cách giữa đức tin và đời sống, giữa cái liên hệ đến tư cách thành viên của Giáo hội và phần còn lại thuộc đời sống thế tục và các trách nhiệm của nó. Ta cần chú ý tránh việc biến các phân biệt thành phân rẽ (distinctions into divisions). Công Đồng Vatican 2 đã cố gắng hết sức tránh việc đó để duy trì tính thống nhất mà không phải lúc nào chúng ta cũng thực hiện được trong thực tế. Hiến chế về Giáo Dân của Công Đồng nói như sau: "Người giáo dân, khi bắt tay chu toàn sứ mệnh này của Giáo hội, thực sự đã làm việc như những tông đồ cả trong Giáo hội lẫn ngoài trần thế, giữa các thực tại thiêng liêng lẫn các việc trần thế. Vì ngay cả khi có khác biệt giữa chúng, tức giữa thực tại thiêng liêng và thực tại mau qua, chúng cũng đã được cột lại với nhau thành một kế hoạch và chỉ một kế hoạch thôi của Chúa đến nỗi Ngài muốn đem toàn thể vũ trụ trở lại với Ngài sau khi đã tái tạo như mới trong Đức Kitô." (AA. 5)

7. Thừa Tác và Nữ Giới:

Như một suy tư cuối cùng về sự tái tạo trong Chúa Kitô này, ta không thể bỏ qua một vấn đề đã được nêu lên trong Thượng Hội Đồng năm 1987 như một quan tâm chính của nhiều miền trên thế giới. Đó là vấn đề vị trí của phụ nữ trong Giáo hội và trên thế giới. Quả là tương đối dễ, và hoàn toàn nhân bản, khi ta tranh luận về sự bình đẳng về giá trị và cơ hội dành cho phụ nữ trên thế giới trong khi trên thực tế lại khước từ cũng một sự bình đẳng ấy trong Giáo hội. Trên đây, khi đề cập đến các thừa tác vụ ủy nhiệm và thiết lập, chúng ta đã đề nghị để các thừa tác vụ ấy được mở rộng cho cả nam lẫn nữ giới. Việc chấp nhận cho phụ nữ vào các thừa tác vụ thụ phong lại là vấn đề khác và đây là vấn nạn đã gây nên nhiều vấn đề mới cho phong trào hiệp nhất Kitô giáo. Trong suốt cuộc tranh luận hiện thời với Giáo Hội Anh Giáo, Đức Hồng Y Basil Hume luôn luôn cho rằng đây là một bước có tầm quan trọng và là một bước khá khác biệt với tập tục lâu đời của các Giáo Hội Công giáo và Chính thống suốt trong lịch sử Kitô giáo đến nỗi không nên thực hiện trước khi có sự thỏa thuận trước của toàn thể Giáo hội. Các đức giáo hoàng gần đây từng tuyên bố một cách mạnh mẽ rằng đây không phải là một vấn đề mở rộng và rằng không hề có một căn bản nào trong thánh kinh, trong thần học cũng như trong truyền thống cho phép phụ nữ đảm nhận hình thức thừa tác vụ này. Tuy nhiên, nói như thế rồi vẫn còn lý do để thẩm định các khuynh hướng và tập tục hiện thời đối với phụ nữ trong Giáo hội và đảm bảo rằng không khuynh hướng hoặc tập tục nào bị điều kiện hoá bởi các kỳ thị về xã hội và văn hóa của quá khứ. Bản văn điều hướng phải là thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Galát: "Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thánh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô" ( 3: 27-28). Người tín hữu được giải phóng khỏi chủ nghĩa quốc gia mù quáng nhưng vẫn là người ái quốc; khỏi những trói buộc của địa vị xã hội nhưng vẫn tiếp tục kính trọng quyền bính dân sự, và khỏi mọi hình thức kỳ thị phái tính nhưng vẫn nhìn nhận tính cách bổ xung và sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà.

Không ai chối cãi rằng việc giải phóng phụ nữ là một diễn trình chậm chạp và tranh luận gắt gao trong lịch sử nhân loại cho đến tận ngày nay. Nó phải được nhìn nhận là một trong những dấu chỉ đích thực của các thời đại. Giáo hội không nên bị kéo một cách miễn cưỡng theo đuôi các tiến bộ nhưng nên ở vị thế tiền phong của những người biết nhìn nhận và tranh đấu để thực hiện sự bình đẳng và đồng phẩm giá cho nữ giới. Trong những năm gần đây ta thấy ít nhất ở một vài nơi trên thế giới có khuynh hướng đáng ngại cho thấy phụ nữ đang thất vọng về điều họ coi Giáo hội không muốn ban cho họ vai trò thực sự của họ và một số đông vì thế đã thôi không còn tham dự tích cực vào đời sống và công việc của Giáo hội nữa. Đã từ lâu chúng ta coi lòng nhiệt tâm và lòng trung thành của nữ giới trong Giáo hội như chuyện đương nhiên đến nỗi không thấy ra những dấu báo nguy cho đến lúc quá trễ.

Hiển nhiên ở nhiều miền thế giới khác nhau có nhiều trình độ ý thức, phát triển về xã hội và chính trị, thái độ văn hóa khác nhau về phụ nữ. Nhưng cũng như các giáo hội trẻ đang hoàn toàn có lý trong việc tìm cách bản vị hóa các phát biểu về đức tin của mình vào nền văn hóa đang thịnh hành của xứ sở họ, các giáo hội cũ cũng cần phải áp dụng cùng một trách vụ bản vị hóa (inculturation) ấy. Ta không thể làm ngơ điều Thánh Thần đang nói trong lòng xã hội hiện đại cũng như trong lòng Giáo hội. Điều quan trọng là ta phải nhận ra và rửa tội cho bất cứ điều gì là nhân bản thực sự. Và do đó, các giáo hội địa phương và các hội đồng giám mục nên đánh giá các đặc sủng và các đóng góp đặc biệt của nữ giới. Trong hoàn cảnh riêng của mình, ta nên sẵn sàng nhìn nhận vai trò của nữ giới trong sinh hoạt Giáo hội và trong các diễn trình quyết định của Giáo hội. Về phương diện thừa tác vụ, nên để nữ giới được thong dong tham dự vào các thừa tác vụ không thụ phong. Việc tái thẩm định tự sắc 'Ministeria Quaedam' nên xem sét đến kinh nghiệm của các giáo hội địa phương.

Để kết luận, xin đề nghị không nên coi các vấn đề thừa tác viên và thừa tác vụ như những vấn đề xa xôi với kinh nghiệm hàng ngày của Giáo hội và chắc chắn không là những vấn đề quan tâm ngoại biên. Chúng liên hệ chặt chẽ với việc hiểu biết của chúng ta về bản chất Giáo hội và với việc chúng ta chia sẻ sứ mệnh của Chúa Kitô trong công trình thiết lập Nước Thiên Chúa. Thánh Phaolô tóm tắt điều đó khi Ngài viết: "Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ muôn hình vạn trạng của Thiên Chúa. Ai có nói thì nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban. Như thế, trong mọi việc, chúng ta tôn vinh Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu Kitô. Kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. Amen." (1 Pet. 4:10-11).

Tài Liệu

Hồng Y Basil Hume, Towards A Civilisation of Love, Being Church in Today's World, New Edition, Hodder & Stoughton, 1988

Theo thanhlinh.net

Giải Thích Các Tội Phạm Sự Thánh

Tội phạm thánh thường liên quan tới 1/ sự thánh như phép Giải tội, phép Mình Thánh Chúa, 2/ nơi thánh như nhà thờ, 3/ người hiến thánh như đức giáo hoàng, giám mục… 4/ đồ vật hiến thánh, 5/ buôn bán của thánh.

Xin giải rộng:

1/ Phạm Phép thánh như phép Giải tội.

- Khi người xưng cố tình giấu tội trọng, vì thế xưng tội không "nên" (không thành).

- Khi người nào "giả" làm linh mục ngồi giải tội cho người ta.

- Phạm sự thánh đến phép Mình Thánh Chúa (Bí tích Thánh Thể), khi biết mình có tội trọng mà còn Rước lễ; ăn cắp MTC về để xúc phạm, làm nhục Chúa ví dụ: giày đạp, đâm chém, đốt, bỏ MTC vào chỗ dơ dáy!!!; bắn súng vào Nhà chầu có MTC!!!

2/ Phạm nơi thánh đã hiến dâng để thờ phượng Chúa là nhà thờ, nhà nguyện công cộng, nghĩa địa đã làm phép.

- Làm những việc thế tục như trình diễn văn nghệ, khiêu vũ, họp chợ, mở tiệc...bắn giết nhau, trong nhà thờ đã thánh hiến là phạm nơi thánh (sacred places). (GL 1205-1213).

- Nhưng trường hợp khẩn thiết phải cho người tị nạn, đau ốm, bị thương ở trong nhà thờ tạm thời, thì không phải là phạm nơi thánh.

3/ Phạm người đã hiến thánh: (người đã dâng mình cho Thiên Chúa) như Đức Giáo hoàng, các Giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ.

- Đánh đập, xỉ nhục họ là phạm người thánh (personal sacrilege). Hình phạt chỉ định tùy tội trạng. (GL 1370).

- Người đã tận hiến có thể phạm thánh chống lại bậc mình: Tội lỗi đức Khiết tịnh, tội như buôn bán, tội mê cờ bạc, tội say sưa, tội ra vào tửu quán, ổ điếm...

4/ Phạm đồ vật đã hiến thánh, đã làm phép để dùng vào việc thờ phượng như chén thánh, xương thánh, tượng ảnh thánh , sách Lễ...cần phải được tôn kính.

- Dùng những đồ thánh vào việc phàm tục. (Ví dụ: Lấy chén thánh uống rượu...)

5/ Phạm tội buôn bán của thánh (tội Simony).

- Lấy tiền mua bán của thiêng liêng. Tội này phát xuất từ phù thủy Simon trong sách Tông đồ Công vụ 8,18-24, hắn muốn dùng tiền mua quyền năng Thánh Thần, nhưng Chúa đã phạt hắn qua thánh Phêrô.

- Những của thiêng liêng như Bí tích, lời cầu nguyện, Ân xá...

- Những của vật chất như tượng, ảnh, xương thánh...Người ta thường chỉ lấy tiền với danh nghĩa "tiền đồ vật, tiền chuyên chở".

* Chúa là Đấng thương xót vô cùng, vì Con Chúa đã chết để cứu mọi người, điều cần là phải ăn năn sám hối, cải thiện.

* Hơn nữa, những con cái ngoan của Chúa cần phải yêu mến đền tạ những tội phạm đến Tình thương của Chúa trong Bí tích Giải tội và Thánh Thể.

Thánh Phaolô lưu ý các tín hữu trong thư 1 Corintô đoạn 11, 27-30 như sau:

"Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. Vì lẽ đó, trong anh em, có nhiều người ốm đau suy nhược, và cũng có lắm người đã chết".

* Rước lễ là bảo đảm để được sống đời đời, nhưng có 3 điều kiện để được đáng Rước lễ: 1/ Sạch tội trọng, 2/ Có ý ngay lành, 3/ Giữ chay 1 giờ.
Theo Thanhlinh.net

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2011

Các chi tiết liên quan đến việc Phong Thánh

Một vài chi tiết liên quan đến việc
tôn phong Hiển Thánh trong Giáo Hội


Một vài chi tiết liên quan đến việc tôn phong Hiển Thánh.
Thể thức tổng quát:
Theo thứ tự thời gian, việc đầu tiên là Hội Dòng hay Giám Mục Giáo Phận, hay hàng Giám Mục thuộc quốc gia liên hệ đệ đơn, với hồ sơ đính kèm, trình bày về một nhân vật nào trong hàng giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân nổi danh về đời sống hành đạo, để xin Tòa Thánh cứu xét và, nếu xứng đáng, nêu cao nhân vật đó làm gương trong sáng cho toàn dân soi chung, nghĩa là đưa lên danh dự bàn thờ làm mô phạm cho mọi người tôn kính. Nhân vật đó lần lượt được ghi vào danh sách những bậc sau đây:

Bậc Tôi Tớ Chúa (Servus Dei):
Từ khi hồ sơ được Tòa Thánh chấp nhận. Tập hồ sơ này sẽ tiếp tục được nghiên cứu, trong thời gian lâu dài hay mau chóng, tuỳ Giáo hội địa phương, hay các Dòng tu, có khả năng cung cấp tài liệu sẽ được đòi hỏi, nhất là được những tài liệu chắc chắn minh chứng đời sống nhân vật đề cử đó có tầm quan trọng, đích đáng đặc biệt.

Bậc Ðáng Kính (Venerabilis):
Nếu đời sống vị Tôi Tớ Chúa quả thật xuất chúng, nghĩa là, theo các chứng nhân tham khảo bằng giấy tờ, đã thực sự tận hiến cho Chúa, hay đã phục vụ tha nhân với mức cao độ: thí dụ chết thay cho người khác, hy sinh xả kỷ trong bệnh viện, trại phong cùi, sống thánh thiện khó nghèo, chịu tử đạo... lúc đó Tòa Thánh sẽ công nhận tính cách anh hùng các nhân đức của Ngài, và ghi nhận vào sổ các bậc Ðáng Kính.

Bậc Chân Phước (Beatus):
Tức là khi vị Ðáng Kính được nâng lên, xứng đáng danh dự tôn kính trên bàn thờ một cách công khai. Theo truyền thống của Giáo hội, từ bậc Ðáng Kính sang bậc Chân Phước, thường ra phải chờ đợi chừng 50 năm, nhất là phải minh chứng bằng hai phép lạ. Thời gian 50 năm có thể rút ngắn lại, tuy nhiên điều kiện hai phép lạ thế nào cũng phải có, nhất là khi những vị Ðáng Kính không phải Tử Ðạo. Các phép lạ nói đây thường là những phép lạ chữa những bệnh tật nguy hiểm, trầm trọng, lâu dài, và cứu chữa một cách tức tốc, ngoài sự dự trù của con người. Ðể tuyên bố phép lạ chính xác hay không, phải qua nhiều phen khám nghiệm và điều tra của Ủy Ban Bác Sĩ được Tòa Thánh chấp nhận.

Bậc Hiển Thánh (Sanctus):
Từ bậc Chân Phước lên bậc Hiển Thánh cũng cần một thời gian (vài chục năm) và, thêm vào đấy, phải cần một phép lạ khác nữa. Giáo hội đi trong thời gian, do đó bao giờ cũng đòi hỏi những bằng chứng thật vững chắc, là vì việc tôn phong Hiển Thánh, được toàn dân xác nhận, là một việc tôn thờ Thiên Chúa thật cao cả, và tôn kính các bậc Thánh Nhân là một hành động chính đáng.
Khi nào các tập hồ sơ hoàn tất và được các Ủy Ban kiểm tra, theo giáo luật, phê chuẩn, Linh mục Cáo Thỉnh viên đệ lên Ðức Thánh Cha, qua Bộ Phong Thánh, kèm theo một thỉnh nguyện thư xin Ngài chiếu cố duyệt y, và cho lệnh chuẩn bị buổi họp Cơ Mật Viện (Consistoire), tức là cuộc họp trên dưới (chừng 60 tới 100) vị Hồng Y, Tổng Giám Mục thuộc các Cơ Quan guồng máy Trung Ương Tòa Thánh, một số Luật Sư, Thẩm Phán trong các Tòa án liên hệ đến việc phong Thánh, một số Cáo Thỉnh viên... Cơ mật viện do Ðức Giáo Hoàng chủ tọa. Ðức Hồng Y Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh xin Ngài duyệt lại một lần sau cùng tất cả những hồ sơ đã đệ lên và đã được nghiên cứu. Ðức Giáo Hoàng sẽ công khai yêu cầu các vị có thẩm quyền được mời tới bỏ phiếu chấp nhận và sau đó, theo đề nghị trong Thỉnh Nguyện thư, Ngài sẽ công bố ngày phong Thánh cho những nhân vật đã được tuyển chọn.

Theo Catholic

117 Thánh Tử Đạo Việt Nam

Danh Sách
117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam


Danh Sách 117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam, được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II Tuyên Phong Thánh tại Rôma ngày 19/06/1988:

1. Anrê Trần An Dũng Lạc, Sinh năm 1795 tại Bắc Ninh, Linh mục, bị xử trảm ngày 21/12/1839 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/12.
2. Anrê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông), Sinh năm 1790 tại Gò Thị, Bình Ðịnh, Thầy giảng, chết rũ tù ngày 15/07/1855 tại Mỹ Tho dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 15/07.
3. Anrê Trần Văn Trông, Sinh năm 1808 tại Kim Long, Huế, Binh Sĩ, bị xử trảm ngày 28/11/1835 tại An Hòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/11.
4. Anrê Tường, Sinh tại Ngọc Cục, Xuân Trường, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
5. Antôn Nguyễn Ðích, Sinh tại Chi Long, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 12/08/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/08.
6. Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh (Năm), Sinh năm 1768 tại Mỹ Hương, Quảng Bình, Y sĩ, bị xử giảo ngày 10/07/1840 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, đước phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 10/07.
7. Augustinô Schoeffler (Ðông), Sinh năm 1822 tại Mittelbonn, Nancy, Pháp, Linh Mục Thừa sai người Pháp, Hội Thừa Sai Paris, bị xử trảm ngày 1/05/1851 tại Sơn Tây dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/05.
8. Augustinô Phan Viết Huy, Sinh năm 1795 tại Hạ Linh, Bùi Chu, Binh Sĩ, Giáo dân dòng ba, bị xử lăng trì ngày 12/06/1839 tại Thừa Thiên dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/06.
9. Augustinô Nguyễn Văn Mới, Sinh năm 1806 tại Phù Trang, Nam Ðịnh, Giáo dân, dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
10. Bênađô Vũ Văn Duệ, Sinh năm 1755 tại Quần Anh, Nam Ðịnh, Linh mục triều, bị xử trảm ngày 1/08/1838 tại Ba Tòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/08.
11. Ða-Minh Cẩm, Sinh tại Cẩm Chương, Bắc Ninh, Linh mục, Dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 11/03/1859 tại Hưng Yên dưới thời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 11/03.
12. Ða-Minh Ðinh Ðạt, Sinh năm 1803 tại Phú Nhai, Bùi Chu, Binh Sĩ, Giáo dân dòng ba, bị xử giảo ngày 18/07/1839 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/07.
13. Ða-Minh Nguyễn Văn Hạnh (Diệu), Sinh năm 1772 tại Năng A, Nghệ An, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 1/08/1838 tại Ba Tòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/08.
14. Ða-Minh Huyện, Sinh tại Ðông Thành, Thái Bìnb, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 5/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 5/06.
15. Ða-Minh Phạm Viết Khảm (Án Trọng), Sinh tại Quần Cống, Nam Ðịnh, Quan Án, Giáo dân Dòng Ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 13/01/1859 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 13/01.
16. Ða-Minh Nguyễn Ðức Mạo, Sinh tại Phú Yên, Ngọc Cực, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
17. Ða-Minh Hà Trọng Mầu, Sinh tại Phú Nhai, Bùi Chu, Linh mục Dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 5/11/1858 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 5/11.
18. Ða-Minh Nguyên, Sinh tại Ngọc Cục, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
19. Ða-Minh Nhi, Sinh tại Ngọc Cục, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
20. Ða-Minh Ninh, Sinh năm 1835 tại Trung Linh, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 2/06/1862 tại An Triêm dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 2/06.
21. Ða-Minh Toái, Sinh tại Ðông Thành, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 5/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 5/06.
22. Ða-Minh Trạch (Ðoài), Sinh năm 1792 tại Ngoại Bồi, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 18/09/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/09.
23. Ða-Minh Vũ Ðình Tước, Sinh năm 1775 tại Trung Lao, Bùi Chu, Linh mục dòng Ða Minh, bị tra tấn đến chết ngày 2/04/1839 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 2/04.
24. Ða-Minh Bùi Văn Úy, Sinh năm 1801 tai Tiên Môn, Thái Bình, Thầy giảng dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
25. Ða-Minh Nguyễn Văn Xuyên (Ðoàn), Sinh năm 1786 tại Hưng Lập, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh. , bị xử trảm ngày 26/11/1839 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 26/11.
26. Ðức Cha Ða-Minh Xuân (Dominicus Henarès), Sinh năm 1765 tại Baena, Cordova, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, phụ tá địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 25/06/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngàỵ 25/06.
27. Ðức Cha Giêrônimô Liêm (Hieronymus Hermosilla), Sinh năm 1800 tại S. Domingo de la Calzadar, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/11/1861 tại Hải Dương dưới thời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 1/11.
28. Ðức Cha Giuse An (Maria Diaz Sanjurjo), Sinh năm 1818 tại Santa Eulalia de Suegos, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, bị xử trảm ngày 20/07/1857 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1900 do Ðức Piô XII, lễ kính ngày 20/07.
29. Ðức Cha Clêmentê Inhaxiô Hy (Ignatius delgado), Sinh năm 1761 tại Villa Felice, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị chết rũ tù ngày 12/07/1838 (21/6/1838 (âm lịch) tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/07.
30. Ðức Cha Melchor Xuyên (Garcia Sampedro), Sinh năm 18211 tại Cortes Asturias, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, bị xử lăng trì ngày 28/07/1858 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951, do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 28/07.
31. Ðức Cha Phêrô Cao (Pierre Rose Dumoulin Borie), Sinh năm 1808 tại Beynat, Tulle, Pháp, Giám mục Hội Thừa Sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 24/11/1838 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/11.
32. Ðức Cha Thể (Etienne Théodore Cuénot), Sinh năm 1802 tại Belieu, Besancon, Pháp, Giám mục Hội Thừa Sai Paris, địa phận Ðông Ðàng Trong, chết rũ tù ngày 14/11/1861 tại Bình Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kínhvào ngày 14/11.
33. Ðức Cha Vinh (Berrio Ochoa), Sinh năm 1827 tại Elorrio (Vizcaya), Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/11/1861 tại Hải Dương dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 1/11.
34. Emmanuel Lê Văn Phụng, Sinh năm 1796 tại Ðầu Nước, Cù Lao Giêng, Giáo dân, Trùm Họ, bị xử trảm ngày 31/07/1859 tại Châu Ðốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 31/07.
35. Emmanuel Nguyễn Văn Triệu, Sinh năm 1756 tại Thợ Ðức, Phú Xuân, Huế, Linh mục, bị xử trảm ngày 17/09/1798 tại Bãi Dâu dưới đời vua Cảnh Thịnh, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 17/09.
36. Giacôbê Ðỗ Mai Năm, Sinh năm 1781 tại Ðông Biên, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 12/08/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/08.
37. Gioan Baotixita Cỏn, Sinh năm 1805 tại Kẻ Bàng, Nam Ðịnh, Giáo dân, Lý Trưởng, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dướiđời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
38. Gioan Baotixita Ðinh Văn Thành, Sinh năm 1796 tại Nộn Khê, Ninh Bình, Thầy giảng, bị xử trảm ngày 28/04/1840 tại Ninh Bình dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/04.
39. Gioan Ðạt, Sinh năm 1765 tại Ðồng Chuối, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 28/10/1798 tại Chợ Rạ dưới đời vua Cảnh Thịnh, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/10.
40. Gioan Ðoàn Trịnh Hoan, Sinh năm 1798 tại Kim Long, Thừa Thiên, Linh mục, bị xử trảm ngày 26/05/1861 tại Ðồng Hới dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 26/05.
41. Gioan Hương (Jean Louis Bonnard), Sinh năm 1824 tại Saint Christo en Jarez, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/05/1852 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/05.
42. Gioan Tân (Jean Charles Cornay), Sinh năm 1809 tại Loudun, Poitiers, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử lăng trì ngày 20/09/1837 tại Sơn Tây dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 20/05.
43. Gioan Ven (Jean Théophane Vénard), Sinh năm 1829 tại St. Loup-sur-Thouet, Poitiersm, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 2/02/1861 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 2/02.
44. Giuse Hoàng Lương Cảnh, Sinh năm 1763 tại Làng Ván, Bắc Giang, Giáo dân dòng ba Ða Minh, Trùm Họ, Y Sĩ, xử trảm ngày 5/09/1838 tại Bắc Ninh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 5/09.
45. Giuse Du (Joseph Marchand), Sinh năm 1803 tại Passavaut, Besancon, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Ðàng Ngoài, bị xử hình bá đao ngày 30/11/1835 tại Thợ Ðúc dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 30/11.
46. Giuse Ðỗ Quang Hiển, Sinh năm 1775 tại Quần Anh, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 9/05/1840 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 9/05.
47. Giuse Hiền (Joseph Fernandez), Sinh năm 1775 tại Ventosa de la Cueva, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 24/07/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/07.
48. Giuse Nguyễn Duy Khang, Sinh năm 1832 tại Trà Vi, Nam Ðịnh, Thầy giảng dòng ba Ða Minh, bị xử trảm ngày 6/12/1861 tại Hải Dương dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 6/12.
49. Giuse Nguyễn Văn Lựu, Sinh năm 1790 tại Cái Nhum, Vĩnh Long,Trùm họ, chết rũ tù ngày 2/05/1854 tại Vĩnh Long dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 2/05.
50. Giuse Nguyễn Ðình Nghi, Sinh năm 1771 tại Kẻ Với, Hà Nội, Linh mục, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
51. Giuse Phạm Trọng Tả (Cai), Sinh năm 1796 tại Quần Cống, Nam Ðịnh, Giáo dân, Cai Tổng, bị xử giảo ngày 13/01/1859 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 13/01.
52. Giuse Lê Ðăng Thị, Sinh năm 1825 tại Kẻ Văn, Quảng Trị, Giáo dân, Cai Ðội, bị xử giảo ngày 24/10/1860 tại An Hòa dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 24/10.
53. Giuse Tuân, Sinh năm 1821 tại Trần Xá, Hưng Yên, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 30/04/1861 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 30/04.
54. Giuse Trần Văn Tuấn, Sinh năm 1825 tại Nam Ðiền, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 7/01/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 7/01.
55. Giuse Túc, Sinh năm 1852 tại Hoàng Xá, Bắc Ninh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 1/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 1/06.
56. Giuse Nguyễn Ðình Uyển, Sinh năm 1775 tại Ninh Cường, Nam Ðịnh, Thầy giảng, dòng ba Ða Minh, chết rũ tù ngày 4/7/1838 tại Hưng Yên dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 4/07.
57. Giuse Ðặng Ðình Viên, Sinh năm 1787 tại Tiên Chu, Hưng Yên, Linh mục triều, bị xử trảm ngày 21/8/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/08.
58. Henricô Gia (Henricus Castaneda), Sinh năm 1743 tại Javita, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 7/11/1773 tại Ðồng Mơ dưới đời Chúa Trịnh Sâm, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 7/11.
59. Inê Lê Thị Thành (Ðệ), Sinh năm 1781 tại Bái Ðền, Thanh Hóa, Giáo dân, chết rũ tù ngày 12/07/1841 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 12/07.
60. Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng, Sinh năm 1802 tại Kẻ Sài, Hà Nội, Linh mục, bị xử trảm ngày 13/02/1856 tại Ninh Bình dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 13/02.
61. Lôrensô Ngôn, Sinh tại Lục Thủy, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 22/05/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 22/05.
62. Luca Vũ Bá Loan, Sinh năm 1756 tại Trại Bút, Phú Ða, Linh mục, bị xử trảm ngày 5/06/1840 Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 5/06.
63. Luca Phạm Viết Thìn (Cai), Sinh năm 1819 tại Quần Cống, Nam Ðịnh, Giáo dân, Cai Tổng, bị xử giảo ngày 13/01/1859 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 13/01.
64. Matthêu Nguyễn Văn Phượng (Ðắc), Sinh năm 1808 tại Kẻ Lái, Quảng Bình, Trùm họ, bị xử trảm ngày 26/05/1861 tại Ðồng Hới dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 26/05.
65. Matthêu Ðậu (Matthaeus Alonso Leciniana), Sinh năm 1702 tại Nava del Rey, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 22/01/1745 tại Thăng Long dưới đời chúa trịnh Doanh, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 22/01.
66. Matthêu Lê Văn Gẫm, Sinh năm 1813 tai Gò Công, Biên Hòa, Giáo dân, Thương gia, bị xử trảm ngày 11/05/1847 tại Chợ Ðũi dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 11/05.
67. Martinô Tạ Ðức Thịnh, Sinh năm 1760 tại Kẻ Sặt, Hà Nội, Linh mục, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
68. Martinô Thọ, Sinh năm 1787 tại Kẻ Bàng, Nam Ðịnh, Giáo dân, Trùm họ, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
69. Micae Hồ Ðình Hy, Sinh năm 1808 tại Như Lâm, Thừa Thiên, Giáo dân, Quan Thái Bộc, bị xử trảm ngày 22/05/1857 tại An Hòa dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 22/05.
70. Micae Nguyễn Huy Mỹ, Sinh năm 1804 tại Kẻ Vĩnh, Hà Nội, Giáo dân, Lý Trưởng, bị xử trảm ngày 12/08/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do ÐứcLêô XIII, lễ kính vào ngày 12/08.
71. Nicôla Bùi Ðức Thể, Sinh năm 1792 tại Kiên Trung, Bùi Chu, Giáo dân, Binh sĩ, bị lăng trì ngày 12/06/1839 tại Thừa Thiên dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Leô XIII, lễ kính vào ngày 12/06.
72. Phanxicô Ðỗ Văn Chiểu, Sinh năm 1797 tại Trung Lễ, Liên Thủy, Nam Ðịnh, Thầy giảng, bị xử trảm ngày 25/06/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 25/06.
73. Phanxicô Kính (Francois Isidore Gagelin), Sinh năm 1799 tại Montperreux, Besancon, Pháp, Linh mục Thừa sai Paris, địa phận Ðàng Trong, bị xử giảo ngày 17/10/1833 tại Bãi Dâu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 17/10.
74. Phanxicô Phan (Francois Jaccard), Sinh năm 1799 tại Onnion, Annecy, Pháp, Linh mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Ðàng Trong, bị xử giảo ngày 21/09/1838 tại Nhan Biều dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/09.
75. Phanxicô Tế (Francois Gil de Federich), Sinh năm 1702 tại Tortosa, Catalunha, Tây Ban Nha, Linh mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 22/01/1745 tại Thăng Long dưới đời chúa Trịnh Doanh, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 22/01.
76. Phanxicô Trần Văn Trung, Sinh năm 1825 tại Phan Xã, Quảng Trị, Giáo dân, Cai đội, bị xử trảm ngày 6/10/1858 tại An Hòa dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 6/10.
77. Phanxicô Xaviê Cần, Sinh năm 1803 tại Sơn Miêng, Hà Ðông, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 20/11/1837 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 20/11.
78. Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu, Sinh năm 1794 tại Kẻ Ðiều, Thầy giảng, dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cô Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
79. Phaolô Tống Viết Bường, Sinh tại Phủ Cam, Huế, Giáo dân, Quan Thị Vệ, bị xử trảm ngày 23/10/1833 tại Thợ Ðức dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 23/10.
80. Phaolô Dương (Ðổng), Sinh năm 1792 tại Vực Ðường, Hưng Yên, Giáo dân, Trùm họ, bị xử trảm ngày 3/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 3/06.
81. Phaolô Hạnh, Sinh năm 1826 tại Chợ Quán, Giáo dân, bị xử trảm ngày 28/05/1859 tại Nam Việt dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 28/05.
82. Phaolô Phạm Khắc Khoan, Sinh năm 1771 tại Duyên Mậu, Ninh Bình, Linh mục, bị xử trảm ngày 28/04/1840 tại Ninh Bình dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/04.
83. Phaolô Lê Văn Lộc, Sinh năm 1830 tại An Nhơn, Gia Ðịnh, Linh mục, bị xử trảm ngày 13/02/1859 tại Gia Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 13/02.
84. Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, Sinh năm 1798 tại Kẻ Non, Hà Nam, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 18/12/1838 tại Sơn Tây dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/12.
85. Phaolô Nguyễn Ngân, Sinh năm 1771 tại Kẻ Bền, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
86. Phaolô Lê Bảo Tịnh, Sinh năm 1793 tại Trịnh Hà, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 6/04/1857 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 6/04.
87. Phêrô Bắc (Pierre Francois Neron), Sinh năm 1818 tại Bornay, Saint-Claude, Pháp, Linh mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 3/11/1860 tại Sơn Tây dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính av2o ngày 3/11.
88. Phêrô Bình (Petrus Almato), Sinh năm 1830 tại San Feliz Saserra, Tây Ban Nha, Linh mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/11/1861 tại Hải Dương dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 1/11.
89. Phêrô Dũng, Sinh tại Ðông Hào, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 6/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước nag2y 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 6/06.
90. Phêrô Ða, Sinh tại Ngọc Cục, Xuân Trường, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 17/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 17/06.
91. Phêrô Nguyễn Văn Ðường, Sinh năm 1808 tại Kẻ Sở, Hà Nam, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 18/12/1838 tại Sơn Tây dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/12.
92. Phêrô Nguyễn Văn Hiếu, Sinh năm 1783 tại Ðồng Chuối, Ninh Bình, Thầy giảng, bị xử trảm ngày 28/04/1840 tại Ninh Bình dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/04.
93. Phêrô Phạm Khanh, Sinh năm 1780 tại Hòa Duệ, Nghệ An, Linh mục, bị xử trảm ngày 12/07/1842 tại Hà Tĩnh dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 12/07.
94. Phêrô Võ Ðăng Khoa, Sinh năm 1790 tại Thượng Hải, Nghệ An, Linh mục, bị xử giảo ngày 24/11/1838 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/11.
95. Phêrô Nguyễn Văn Lựu, Sinh năm 1812 tại Gò Vấp, Gia Ðịnh, Linh mục, bị xử trảm ngày 7/04/1861 tại Mỹ Tho dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 7/04.
96. Phêrô Ðoàn Công Quý, Sinh năm 1826 tại Búng, Gia Ðịnh, Linh mục, bị xử trảm ngày 31/07/1859 tại Châu Ðốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909, lễ kính vào ngày 31/07.
97. Phêrô Thuần, Sinh tại Ðông Phú, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 6/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 6/06.
98. Phêrô Phạm Văn Thi, Sinh năm 1763 tại Kẻ Sở, Hà Nội, Linh mục, bị xử trảm ngày 21/12/1839 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/12.
99. Phêrô Vũ Văn Truật, Sinh năm 1816 tại Kẻ Thiếc, Hà Nam, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 18/12/1838 tại Sơn Tây dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/12.
100. Phêrô Nguyễn Bá Tuần, Sinh năm 1766 tại Ngọc Ðồng, Hưng Yên, Linh mục triều, bị chết rũ tù ngày 15/07/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 15/07.
101. Phêrô Lê Tùy, Sinh năm 1773 tại Bằng Sở, Hà Ðông, Linh mục, bị xử trảm ngày 11/10/1833 tại Quan Ban dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 11/10.
102. Phêrô Nguyễn Khắc Tự, Sinh năm 1811 tại tại Ninh Bình, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 10/07/1840 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 10/07.
103. Phêrô Nguyễn Văn Tự, Sinh năm 1796 tại Ninh Cường, Bùi Chu, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 5/09/1838 tại Bắc Ninh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 5/09.
104. Phêrô Ðoàn Văn Vân, Sinh năm 1780 tại Kẻ Bói, Hà Nam, Thầy giảng, bị xử trảm ngày 25/05/1857 tại Sơn Tây dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 25/05.
105. Philipphê Phan Văn Minh, Sinh năm 1815 tại Cái Mơn, Vĩnh Long, Linh mục, bị xử trảm ngày 3/07/1853 tại Ðình Khao dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 3/07.
106. Simon Phan Ðắc Hòa, Sinh năm 1787 tại Mai Vĩnh, Thừa Thiên, Giáo dân, Y Sĩ, bị xử trảm ngày 12/12/1840 tại An Hòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/12.
107. Stêphanô Nguyễn Văn Vinh, Sinh năm 1814 tại Phù Trang, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 25/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
108. Tôma Ðinh Viết Dụ, Sinh năm 1783 tại Phú Nhai, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 26/11/1839 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 26/11.
109. Tôma Nguyễn Văn Ðệ, Sinh năm 1810 tại Bồ Trang, Nam Ðịnh, Giáo dân dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
110. Tôma Khuông, Sinh năm 1780 tại Nam Hào, Hưng Yên, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 30/01/1860 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 30/01.
111. Tôma Trần Văn Thiện, Sinh năm 1820 tại Trung Quán, Quảng Bình, Chủng sinh, bị xử giảo ngày 21/09/1838 tại Nhan Biều dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/09.
112. Tôma Toán, Sinh năm 1767 tại Cần Phan, Nam Ðịnh, Thầy giảng, dòng ba Ða Minh, bị chết rũ tù ngày 27/07/1840 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 27/06.
113. Vincentê Dương, Sinh tại Doãn Trung, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 6/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 6/06.
114. Vincentê Nguyễn Thế Ðiểm, Sinh năm 1761 tại Ân Ðô, Quảng Trị, Linh mục, bị xử giảo ngày 24/11/1838 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/11.
115. Vincentê Lê Quang Liêm, Sinh năm 1732 tại Trà Lũ, Bùi Chu, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 7/11/1773 tại Ðồng Mơ dưới đời chúa Trịnh Sâm, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 7/11.
116. Vincentê Tường, Sinh tại Phú Yên, Giáo dân, bị xử ngày 16/6/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
117. Vincentê Ðỗ Yến, Sinh năm 1764 tại Trà Lũ, Phú Nhai, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 30/06/1838 tại Hải Dương dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 30/06.

118. Chân Phước Anrê Phú Yên, Sinh tại tỉnh Phú Yên năm 1625. Rửa tội năm 15 tuổi, cùng lúc với bà mẹ góa và các anh chị, do chính cha Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes). Tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644. Ðược phong Chân Phước ngày 5/03/2000 do Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
Theo Catholic
Sự Nghiệp Truyền Giáo

tại Việt Nam

(1533-1960)



Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan
A. Những Nhà Truyền Giáo Ðến Việt Nam



I. Những Nhà Truyền Giáo Ðầu Tiên Ðến Việt Nam

Căn cứ theo tài liệu Lịch Sử Dân Sự Quốc Gia Khâm Ðịnh Sử đã một lần ghi nhận: "Năm Nguyên Hòa nguyên niên, tức đời vua Lê Trang Tôn, năm 1533 đã có người Tây tên là Inekhu đi đường bể vào giảng đạo Thiên Chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh thuộc huyện Nam Châu (tức Nam Trực) và ở làng Trà Lũ huyện Giao Thủy". Rất tiếc là những chi tiết liên hệ tới Inekhu (có lẽ được phiên âm từ Inigo - tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là Inhaxiô) ngày nay không còn được ghi nhớ, và do đó không ai biết rõ về tông tích, cũng như về công cuộc truyền đạo của vị thừa sai thứ nhất này.

Theo Linh Mục Marcos Gispert, O.P., nhà sử học dòng Anh Em Thuyết Giáo đã sống tại Việt Nam 34 năm trời, sau Inekhu còn một số nhà truyền giáo khác như:

- Linh Mục Gaspar de S. Cruz: năm 1550 từ Malacca đổ bộ lên Hà Tiên và sau đó từ cửa biển Bà Rịa đi Quảng Ðông.

- Hai Linh Mục Lopez và Acevedo: năm 1558 đã tới giảng vùng Cao Miên 10 năm.

- Hai Linh Mục Luis de Fonseca, O.P. (Bồ) và Grégoire de la Motte, O.P. (Pháp) cũng từ Malacca tới, suốt 6 năm đi truyền đạo tại Quảng Nam đời Chúa Nguyễn Hoàng vào thời gian 1580-1586. Chính quân đội Nguyễn Hoàng đã giết Linh Mục de Fonseca trong khi ngài hành lễ, còn Linh Mục Grégoire de la Motte về sau cũng chết vì bị trọng thương.



II. Những Nhà Truyền Giáo Dòng Tên Ðến Việt Nam

Rồi đến lượt các Linh Mục Dòng Tên: theo chân thánh Phanxicô Xaviê truyền đạo tại Nhật Bổn (1549), bị Hoàng Ðế Daifusama trục xuất khỏi đất Phù Tang năm 1614, kéo nhau về tập trung tại trụ sở Macao (khác nào như một đầu cầu thành lập từ năm 1564). Làm sao kìm hãm được sự hăng say của những nhà truyền giáo. Ngày 15/1/1615 hai Linh Mục Buzomi và Diego Carvalho cùng ba thày giúp việc tới Ðà Nẵng. Sau đó ngày 15/1/1627 - nhằm ngày lễ kính thánh Giuse - Linh Mục Alexandre de Rhodes (Ðắc Lộ) đã cập bến Cửa Bạng (Thanh Hóa) tiếp tay cho các bạn đồng nghiệp. Và từ đó phát triển sự nghiệp truyền đạo không những bằng mục vụ thường xuyên, nhưng nhất là bằng cách hoàn bị việc thành lập chữ Quốc Ngữ - chúng ta đang có ngày nay - để phổ biến sự truyền bá Ðức Tin, và tổ chức Nhà Ðức Chúa Trời (1629), tức là tập trung khắp nơi từng nhóm thanh thiếu niên (hay cả người đã đứng tuổi) thiện chí, sống đời độc thân và cùng với các Linh Mục - trong giáo xứ hay là trong các nơi xa xôi hẻo lánh - chia sẻ việc truyền đạo, nhất là chuyện dạy giáo lý cho dân chúng.

Các Linh Mục Dòng Tên ở lại Việt Nam cho tới năm 1788. Vắng bóng đi trong một thời gian lâu 169 năm (1788-1957). Nhưng rồi Giáo Hội Việt Nam yêu cầu các ngài trở lại năm 1957, để ngày 13/9/1958 nhận trách nhiệm điều khiển Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X tại Ðà Lạt, đồng thời khuyếch trương nhiều hoạt động khác nhau trong lãnh vực văn hóa xã hội.



III. Hội Thừa Sai Paris (Les Missions Etrangeres de Paris) Ðến Việt Nam

Ngày 3/7/1645 Linh Alexandre de Rhodes (Ðắc Lộ) rời Việt Nam về giáo đô Roma báo cáo cho Tòa Thánh về những tiến triển mau chóng trong việc truyền đạo tại Việt Nam, nhất là xin gửi một số Giám Mục đến cánh đồng phì nhiêu này để củng cố nền móng Giáo Hội. Ngài được Roma cho phép rảo khắp đất Pháp đi tìm những ơn kêu gọi, tìm những Linh Mục sẵn sàng xung phong và tiếp tục công việc đã khởi sự với nhiều thành quả may mắn: tại đây mới có Hội Thừa Sai Paris. Hội ra đời năm 1660 và được chấp nhận năm 1664 đời Ðức Giáo Hoàng Alexandrô VII. Cũng vị Giáo Hoàng này đã ký sắc lệnh bổ nhiệm hai Giám Mục đầu tiên cho Viễn Ðông: Ðức Cha Phanxicô Pallu và Ðức Cha Lambert de la Motte.

Hội Thừa Sai Paris có công lớn với Giáo Hội Việt Nam bằng cách:

- Ðã triệu tập Hội Nghị Mục Vụ đầu tiên: ngày 14/2/1670 tại Ðình Hiến tỉnh Nam Ðịnh, Ðức Cha Lambert de la Motte đã qui định thể chế Nhà Ðức Chúa Trời, và thành lập Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam: các chị em Nữ Tu là những cộng tác viên rất đắc lực của hàng Giáo Phẩm trong việc truyền đạo bên cạnh giáo dân, nhất là trong các vùng thôn quê.

- Ðã xây dựng Ðại Chủng Viện Penang (1870) để đào tạo các linh Mục bản xứ Á Châu và Việt Nam: các thánh Linh Mục Tử Ðạo miền Nam đều xuất thân từ đây; và suốt ba thế kỷ đã sống chết với Giáo Hội địa phương cho tới sáng 12/8/1975, ngày mà các vị Thừa Sai Ngoại Quốc sau cùng được mời ra khỏi Việt Nam.



IV. Dòng Anh Em Thuyết Giáo (Dòng Ða Minh) Ðến Việt Nam

Theo lời mời của Ðức Cha Phanxicô Pallu vì những đòi hỏi rất khẩn trương tại Việt Nam: số tín hữu tân tòng tiếp tục gia tăng, Linh Mục Giám Tỉnh Dòng Anh Em Thuyết Giáo Felipe Pardo, O.P., từ Manila đã phái hai Linh Mục Juan de Santa Cruz và Juan Arjona đi lối Trung Linh (Bùi Chu) lên Phố Hiến (Hưng Yên) ngày 7/7/1676. Các ngài vẫn hoạt động chung với Hội Thừa Sai Paris cho tới thập năm 1659 Ðức Alexandro VII ban sắc lệnh thành lập hai Giáo Phận đầu tiên: Ðàng Trong và Ðàng Ngoài (Nam và Bắc: lấy con sông Gianh làm biên giới).

Năm 1679 Ðức Innocenxio XI lại chia Giáo Phận Ðàng Ngoài thành hai: Tây Ðàng Ngoài (từ sông Hồng Hà tới ranh giới Ai Lao) trao cho Hội Thừa Sai Paris dưới quyền quản nhiệm Ðức Cha de Bourges, và Ðông Ðàng Ngoài (từ tả ngạn sông Hồng Hà chạy ra biển): lúc ban đầu cũng do Giám Mục Deydier của Hội Thừa Sai Paris phụ trách. Năm 1693 Giám Mục Deydier qua đời, Ðức Cha De Bourges xin Tòa Thánh trao giáo phận này cho Dòng Thánh Ða Minh, vì từ 20/8/2679 tất cả số nhân sự của Dòng đã tập trung về đây.

Ðồng thời, Cha Tổng Quyền Dòng Anh Em Thuyết Giáo sát nhập các cơ sở truyền giáo của Hội Dòng tại Bắc Việt hồi đó vào Tỉnh Dòng Ðức Mẹ Mân Côi tại Phi Luật Tân. Từ Nhà Tổng Quyền S. Sabina (tại Roma) cha Raimondo Lezoli, O.P., được Thánh Bộ Truyền Giáo đề cử sang tiếp tay với cha Juan de Santa Cruz hồi đó đang ở Trung Linh, về sau Tòa Thánh yêu cầu ngài chính thức lãnh trách nhiệm tất cả miền Ðông. Ngày 2/2/1702 tại Kẻ Sặt cha Raimondo Lezoli được thụ phong Giám Mục tiên khởi của Dòng Ða Minh tại Bắc Việt. Nền móng vững chắc Ða Minh đã được xây dựng trên mảnh đất Việt Nam, và một trong những hạt giống Dòng Thuyết Giáo đã gieo sâu trong lòng dân tộc bản xứ, tức là sự tôn sùng tràng hạt Ðức Mẹ Mân Côi vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay.

Ngày 18/3/1967, tức 291 năm sau (1676-1967), Cha Bề Trên Tổng Quyền Aniceto Fernandez tuyên bố: đã tới thời gian tách rời Việt Nam ra khỏi Phi Luật Tân, và thành lập Tỉnh Dòng Anh Em Thuyết Giáo riêng biệt với danh hiệu Tỉnh Dòng Nữ Vương Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam.



V. Những Hội Dòng Khác

Ngoài mấy Hội Dòng lớn kể trên đây - đã sống chết với Giáo Hội Việt Nam - còn hai Hội Dòng khác cũng đến truyền đạo tại xứ sở chúng ta:

1. Dòng Anh Em Thánh Augustinô (Augustiniani Scalzi):

Hoạt động tại Bắc Việt, tuy nhiên chỉ trong vòng hơn 60 năm (1701-1765): 15 vị Thừa Sai Ngoại Quốc - trong đó có Giám Mục Ilario Costa di Gesu (1735-1754) - 6 Linh Mục Việt Nam, và 2 Linh Mục khác, người Bồ, thường xuyên ở Cửa Hàn, làm tuyên úy cho cộng đoàn nhỏ bé người Bồ Ðào Nha phần nhiều là những thương gia đi qua đi lại, hay là trú ngụ tại đó từ trước năm 1596.

2. Dòng Phanxicô khó nghèo (Ordo Fratrum Minorum: OFM):

Từ năm 1583 đã có vết chân hai Giáo Sĩ P. Alfara và B. Ruyz tại miền Nam Việt Nam, nhưng vì gặp rất nhiều khó khăn nguyên do từ cạnh tranh giữa hai khối Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha, việc truyền đạo của Dòng Phanxicô bị gián đoạn và sau cùng bị bỏ dở. Mãi đến năm 1711 Dòng Phanxicô trở lại hoạt động tại giáo phận Ðàng Trong (một nửa tỉnh Ðồng Nai và kiêm luôn Cao Miên). Nhưng thời cuộc lúc đó cũng không may mắn hơn trước:

- Một đàng số giáo sĩ Bồ Ðào Nha - quá nương tựa vào ảnh hưởng Hoàng Gia nước Bồ - không chịu nhận quyền hành của hàng Giáo Sĩ do Tòa Thánh Roma trực tiếp bổ nhiệm;

- Ðàng khác sự bất đồng ý kiến giữa các Hội Thừa Sai về vấn đề "thờ cúng tổ tiên" và một vài phong tục cổ truyền: Dòng Tên và Dòng Phanxicô tán thành, trái lại Hội Thừa Sai người Pháp chống đối. Ðức Clemente XIII năm 1738 đã cử phái đoàn do Giám Mục De La Baume sang tận nơi điều tra và ổn định tình thế.

- Sau cùng, vào năm 1750, Võ Vương (Nguyễn Phước Khoát 1725-1765) đột nhiên ra lệnh đuổi hết Giáo Sĩ ngoại quốc ra khỏi lãnh thổ. Tất cả 28 Giáo Sĩ bị lùng bắt và hạ ngục, trong số đó Giáo Sĩ Michel de Salamanque (thuộc Dòng Phanxicô Tây Ban Nha) chết rũ tù ngày 14/7/1750.

Trong Việt Nam Công Giáo Niên Giám còn kể thêm: vị Thừa Sai sau cùng Dòng Phanxicô là Thánh Odoric De Collodi - bị giam đồng thời với hai Thánh Gagelin và Jaccard thuộc Hội Thừa Sai Paris - ngày 23/5/1834 đã tắt thở trong ngục Lao Bảo "buồn vô hạn vì không được lấy máu đào làm chứng cho Chúa Giêsu".

Như thế Dòng Phanxicô đã hoạt động hơn một thế kỷ (1711-1833), có cả một Giám Mục: Ðức Cha Valeriô Rist (1737). Sau đó vắng đi một thời gian (gần một thế kỷ nữa) năm 1929 Ðức Cha A.J. Eloy, Giám Mục giáo phận Vinh, được sự chấp thuận của Bộ Truyền Giáo và Bộ Tu Sĩ, đã đặt giấy mời các Cha Dòng Thánh Phanxicô trở lại Việt Nam. Ngày 21/11/1929 Giáo Sĩ Maurice Bertin và một số Tu Sĩ Dòng Phanxicô đã lên bến Ðà Nẵng, và đặt cơ sở đầu tiên tại thị xã Vinh ngày lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội: 8 tháng 12 năm 1931.

Chúng ta thấy công trình truyền đạo từ lúc khai nguyên với hai giáo phận Ðàng Trong và Ðàng Ngoài (1659) suốt ba thế kỷ đã phát triển không ngừng. Ngày nay đã thành 25 giáo phận (10 ngoài Bắc và 15 trong Nam).



B. Những Giáo Phận của Việt Nam từ thuở ban đầu



- Ngày 9/7/1659: Ðức Thánh Cha Alexandre VII ban sắc bổ nhiệm hai linh mục Francois Pallu và Lambert de la Motte làm Giám Mục Tiên Khởi hai giáo phận đầu tiên tại ViệtNam:

+ Giáo Phận Ðàng Trong: từ sông Gianh trở vào Nam, bao gồm Cao Miên và Chiêm Thành, trao cho Ðức Cha Pallu

+ Giáo Phận Ðàng Ngoài: từ sông Gianh trở ra Bắc và miền Nam Trung Hoa, trao cho Ðức Cha Lambert de la Motte.

- Ngày 31/1/1668: tại Juthia kinh đô Thái Lan, Ðức Cha Lambert de la Motte tấn phong linh mục cho 4 thày giảng: Cha Giuse Trang và Luca Bền, thuộc giáo phận Ðàng Trong; cha Gioan Huệ và Benedictô Hiền, thuộc giáo phận Ðàng Ngoài. Ðây là 4 vị linh mục tiên khởi của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

- Năm 1669: Ðức Cha lambert de la Motte tấn phong thêm 7 vị linh mục Việt Nam.

- Năm 1670: Ðức Cha lambert de la Motte chuẩn y thành lập Dòng Mến Thánh Giá cho các nữ tu Việt Nam.

- Năm 1678: Ðức Cha Pallu từ Thái Lan về Rome, đề nghị tấn phong giám mục cho 6 linh mục trong số các linh mục tiên khởi. Tiếc rằng đề nghị này đã bị Tòa Thánh bác bỏ.

- Năm1679: Giáo Phận Ðàng Trong tách rời thành hai giáo phận mới, lấy sông Hồng Hà làm ranh giới. Hai giáo phận Ðàng Ngoài gồm 2 giám mục, 7 vị thừa sai Pháp, 11 linh mục Việt Nam và hơn 200,000 tín hữu:

+ Giáo Phận Ðông Ðàng Ngoài (Hải Phòng): từ sông Hồng Hà và các tỉnh ven biển, trao cho Ðức Cha Deydier đảm nhiệm.

+ Giáo Phận Tây Ðàng Ngoài (Hà Nội): từ sông Hồng đến biên giới Ai Lao, đặt dưới sự cai quản của Ðức tân Giám Mục De Bourges.

-Năm 1693: Ðức Cha Deydier (Giáo Phận Ðông Ðàng Ngoài) mất, Ðức Cha De Bourges phải cai quản hai giáo phận. Vì tình trạng thiếu hụt Thừa Sai, nên Ðức Cha De Bourges đã nhượng địa phận Ðông cho Dòng Ða Minh, trụ sở tại Manila (Phi Luật Tân).

- Năm 1844: Ðức Thánh Cha Grégoire XVI chia giáo phận Ðàng Trong thành hai giáo phận mới:

+ Giáo Phận Bắc Ðàng Trong (Qui Nhơn): do Ðức Cha Cuenot Thể đảm nhiệm;

+ Giáo Phận Nam Ðàng Trong (Sàigòn): trao cho Ðức tân Giám Mục D . Lefebre Ngãi.

- Năm 1846: Giáo Phận Tây Ðàng Ngoài được cắt để thành lập Giáo Phận Vinh. Tân giáo phận bao gồm Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và một phần tỉnh Quảng Bình, được ủy thác cho Ðức Cha J. Gauthier Hậu.

- Năm 1848: Tòa Thánh thiết lập thêm địa phận mới gồm hai tỉnh Nam Ðịnh và Hưng Yên, tách rời từ Giáo Phận Ðông để thành lập Giáo Phận Bùi Chu (Trung). Tân Giáo Phận được giao cho Ðức Cha D. Martin Gia cai quản.

- Năm 1850: Tòa Thánh cắt giáo phận Bắc Ðàng Trong gồm các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên, Quảng Trị để thành lập Giáo Phận Huế, và đặt Ðức Cha Pellerin (Phan) cai quản.

- Năm 1850: Giáo Phận Nam Vang tách rời từ giáo phận Sàigòn và trao lại cho Ðức Cha J. Michel Mịch.

- Năm 1883: Giáo Phận Bắc Ninh được thành lập, tách rời từ giáo phận Hải Phòng, và bao gồm các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Cao Bằng. Tân giáo phận trao cho Ðức Cha Colomer Lễ.

- Năm 1895: Giáo Phận Hưng Hóa gồm các tỉnh Sơn Tây, Yên Bái, Hòa Bình và Lai Châu được thành lập. Tân giáo phận trao lại cho Ðức Cha Paul Maris Raymond.

- Năm 1901: Giáo Phận Phát Diệm (Thanh) được thành lập gồm hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình. Tân giáo phận tách rời từ giáo phận Hà Nội, và đặt dưới sự cai quản của Ðức Cha Alexandre Marcou Thành.

- Năm 1913: Hạt Phủ Doãn Lạng Sơn được thành lập, tách rời từ giáo phận Bắc Ninh và được ủy thác cho các vị thừa sai dòng Ða Minh Lyon đảm trách.

- Năm 1932: Giáo Phận Thanh Hóa gồm các tỉnh Thanh Hóa và Sầm Nứa (Ai Lao) được thiết lập. Tân giáo phận tách rời từ giáo phận Phát Diệm, và đặt dưới sự cai quản của Ðức Cha Louis de Cooman Hành.

- Năm 1932: Giáo Phận Kontum được thành lập, bao gồm 3 tỉnh Kontum, Darlac, Pleiku; tân giáo phận tách rời từ địa phận Qui Nhơn và đặt dưới sự hướng dẫn của Ðức Cha Jannin Phước.

- Ngày 11/6/1933, tại Ðền Thánh Phêrô (Rome), Ðức Thánh Cha Piô XI đã tấn phong vị Giám Mục tiên khởi cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là Ðức Cha Baotixita Nguyễn Bá Tòng. Ngài là Giám Mục phó với quyền kế vị giáo phận Phát Diệm.

- Năm 1935: Ðức Cha Ða Minh Hồ Ngọc Cẩn, vị giám mục thứ hai Việt Nam được tấn phong tại nhà thờ Phú Cam (Huế). Ngài là Giám Mục phụ tá với quyền kế vị giáo phận Bùi Chu.

- Năm 1936: Giáo Phận Thái Bình được thiết lập, tách rời từ giáo phận Bùi Chu, bao gồm hai tỉnh Thái Bình, Hưng Yên. Tân giáo phận đặt dưới sự cai quản của Ðức Cha Cassado Thuận.

- Năm 1938: Giáo Phận Vĩnh Long gồm các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre (Kiến Hòa) và Trà Vinh (Vĩnh Bình). Tân giáo phận tách rời từ giáo phận Sàigòn và trao cho Ðức Cha Phêrô Martino Ngô Ðình Thục. Ngài được tân phong vào ngày 4/5/1938 tại Huế, do Ðức Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam là Ðức Cha Drapier chủ sự.

- Năm 1939: Giáo Phận Lạng Sơn: Hạt Lạng Sơn được Tòa Thánh nâng lên hàng Giáo Phận, và trao cho Ðức Cha Felix (Minh ) quản nhiệm.

- Năm 1940: Thêm một vị giám mục nữa được tấn phong là Ðức Cha Gioan Maria Phan Ðình Phùng. Ngài là Giám Mục phụ tá với quyền kế vị địa phận Phát Diệm.

- Năm 1944: Ðức Cha Gioan Maria Phan Ðình Phùng tạ thế. Cố giám mục sinh tại làng Kiến Thái, Kim Sơn (Phát Diệm). Sau khi hoàn tất học vấn tại chủng viện Phúc Nhạc, Ngài du học tại Giáo Hoàng Học Viện Penang, thụ phong linh mục ngày 5/4/1924 và được đề cử làm giáo sư chủng viện Penang cho đến năm 1940, và được Tòa Thánh tấn phong Giám Mục vào ngày 3/12/1940. Ngài mất đột ngột vào ngày 28/5/1944 tại tu viện Châu Sơn, Nho Quan.

- Năm 1945: Sau đệ nhị thế chiến, Tòa Thánh lưu tâm đến việc tuyển chọn hàng giáo sĩ Việt Nam lên phẩm trật Giám Mục để lèo lái con thuyền giáo hội Việt Nam. Tòa Thánh bổ nhiệm giám mục mới: Ðức Cha Anselmo Lê Hữu Từ, bấy giờ đang là Bề Trên Ðan Viện Xitô Phước Sơn (Nho Quan). Ngài là vị giám mục thứ năm người Việt Nam.

- Năm 1948: Ðức Cha Ða Minh Hồ Ngọc Cẩn từ trần. Cố giám mục sinh ngày 3/12/1876 tại Ba Châu (Huế), theo học tiểu chủng viện An Ninh (Quảng Trị), đại chủng viện Phú Xuân (Huế). Ngài thụ phong linh mục ngày 20/12/1902, sau đó lần lượt giữ chức cha phó xứ Kẻ Văn, chánh xứ Kẻ Hạc, giáo sư chủng viện An Ninh (1910). Năm 1935, Ðức Cha Monagorri mất, Ðức Cha Ða Minh chính thức nhận quyền Giám Mục Bùi Chu. Ðức Cha Ða Minh mất ngày 27/11/1948 tại Bùi Chu sau 12 năm cai quản giáo phận.

- Năm 1950: Ðức tân Giám Mục Ða Minh Hoàng Văn Ðoàn được tấn phong Giám Mục tại Rome ngày 3/9/1950, và nhận quyền Giám Mục giáo phận Bắc Ninh.

- Năm 1950: Ðức Cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê được tấn phong Giám Mục, và đảm nhận địa phận Hà Nội.

- Năm 1950: Ðức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi được tấn phong Giám Mục và đảm nhận giáo phận Bùi Chu.

- Năm 1950: Ðức Cha tiên khởi Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng tạ thế. Ngài sinh ngày 7/8/1868 tại Gò Công, theo học các trường các thày dòng tại Ðịnh Tường đến năm 1880. Sau đó Ngài được gửi theo học tại Ðại Chủng Viện Sàigòn. Ngày 19/9/1896, Ðức Cha Depiere tấn phong linh mục cho cha Gioan Baotixita và chọn người làm thư ký Tòa Giám Mục. Trước khi được tấn phong giám mục, ngài lần lượt giữ chức cha sở họ Tân Ðịnh, Bà Rịa. Năm 1935, Ðức Cha Marcou Thành từ chức, trao quyền Giám Mục giáo phận Phát Diệm cho Ðức Cha Nguyễn Bá Tòng. Ðây là giáo phận thứ nhất được ủy thác cho hàng giáo sĩ Việt Nam.

- Năm 1951: Giáo phận Vinh trao cho đức tân Giám Mục Baotixita Trần Hữu Ðức.

- Năm 1953: Ðức Cha Giuse Trương Cao Ðại nhận quyền Giám Mục giáo phận Hải Phòng. Ðức tân giám mục sinh ngày 4/6/1913 tại làng Tiền Môn, An Lập, Thái Bình. Năm 1927, ngài theo học tại tiểu chủng viện Ninh Cường, sau đó tại Giáo Hoàng Học Viện Nam Ðịnh. Năm 1936, ngài được gửi sang học ở Ða Minh Học Viện tại Hương Cảng, sau đó tại Manila (Phi Luật Tân) và đậu tiến sĩ tại đại học Thánh Thomas. Năm 1953, Tòa Thánh chọn ngài làm giám mục cai quản địa phận hải Phòng, nhưng được hơn một năm thì phải di cư vào Nam. Ngài định cư tại Madrid (Tây Ban Nha) và mất tại đó vào năm 1955.

- Năm 1955: Giáo Phận Cần Thơ được thành lậop và được giao cho đức tân Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình. Ngài sinh tại Tân Ðịnh ngày 1/9/1910, gia nhập tiểu chủng viện Sàigòn năm 1922. Năm 1932, Ðức Cha Dumortier gửi ngài qua Rome theo học trường Truyền Giáo, và thụ phong linh mục năm 1937. Trước khi Tòa Thánh chọn Ngài làm Giám Mục, cha Bình lần lượt giữ các chức vụ như: giáo sư chủng viện (1943), tuyên úy các sư huynh Sàigòn. Năm 1948, thực hiện tờ báo Tông Ðồ, cha xứ họ Cầu Ðất. Ngày 20/9/1955, Tòa Thánh chọn ngài làm Giám Mục cai quản tân giáo phận Cần Thơ. Năm 1960, Ðức Cha Bình thuyên chuyển về Sàigòn và làm Tổng Giám Mục địa phận Sàigòn cho đến ngày qua đời.

- Năm 1955: Ðức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền được tấn phong Giám Mục, và đảm nhận giáo phận Sàigòn, thay thế Ðức Cha Cassaige Sanh từ chức để đi làm tuyên úy Trại Cùi Di Linh.

- Năm 1957: Tòa Thánh cắt hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận (thuộc địa phận Qui Nhơn) và hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy (thuộc địa phận Sàigòn) để thiết lập Giáo Phận Nha Trang. Tân giáo phận này trao cho Ðức Cha Piquet Lợi.



(Các tài liệu được trích dẫn từ:

- tập sách Giáo Hội Việt Nam của Ðức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ,

- bài Tìm Hiểu Giáo Hội Việt Nam của Nguyễn Vũ Tuấn Linh)